Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Quan niệm Chính danh của Nho Gia

Nếu Phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hóa triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy. Một trong những tư tưởng triết học Phương Đông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lý, đạo đức, siêu hình, chính trị - xã hội đó là những tư tưởng triết học của Nho Gia. Trong bài này tôi xin được đề cập đến ba vấn đề sau :
      1. Bối cảnh ra đời học thuyết Chính danh
      2. Học thuyết Chính danh một sáng kiến của Khổng Tử
      3. Nội dung của học thuyết Chính danh
      4. Nhận định và phê bình về thuyết Chính danh  
                                                                             
           Nho Gia xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (1551 tr. CN – 479 tr. CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho Gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau; duy tâm và duy vật trong đó dòng Nho Gia Khổng Tử và Mạnh Tử có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
1.   - Bối cảnh ra đời học thuyết Chính danh
Khổng Tử sinh thời của ngài thường nói với học trò rằng “(Ngô) thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”[1] nghĩa là : Ta chỉ thuật lại mà không trước tác, tin vào đạo lý đời xưa. Các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử ngày nay đều cho rằng, trong các tác phẩm như Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận Ngữ… thì chỉ có quyển Luận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất[2] vì những lời phát biểu của Khổng Tử trong sinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học trò của ngài. Do đâu mà Khổng Tử đề ra học thuyết Chính danh?
Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu. Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn. Ngài lấy làm tiếc cái thời đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu Công… sao mà thời đại tươi đẹp, phong hóa tốt tươi đến thế! Ngài nhìn thấy tình cảnh “Tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân của một sáng một chiều”[3]. Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó. Mà cái cớ này không tự dưng mà có mà nó được tích lũy dần dần qua thời gian mà đến một thời điểm nào đó, chúng ta tạm gọi đó là điểm nút thì sẽ xảy ra kịch tính như trên. Kinh dịch có câu “Đi trên sương mà băng giá tới” (Lý sương kiên băng chí) là thuận với lẽ diễn tiến tự nhiên của mọi sự vậy.
Khổng Tử thấy tình trạng xã hội thời ngài hỗn loạn đến nỗi “Tôi giết vua, con giết cha” là tệ hại lắm rồi, nhưng ngài là người không thích bạo lực, không thích làm cuộc thay đổi triệt để để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần. “Ông nghĩ rằng muốn cho xã hội có trật tự, thì trước hết phải Chính danh, mỗi cái danh bao hàm một số điều kiện tạo nên bản chất một loại sự vật mà danh liên quan đến. Bản chất của ông vua là những điều kiện lý tưởng mà ông vua phải có, nghĩa là những điều kiện hợp với “vương đạo”. Hành động theo vương đạo thì ông vua mới thật là vua, ông vua vừa hợp với thực vừa hợp với danh. Như vậy là có sự phù hợp giữa danh và thực. Nhưng nếu ông vua không hành động theo vương đạo, thì không phải là vua nữa, mặc dầu dân chúng vẫn coi là vua. Những tương quan trong xã hội, mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận nào, và những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn phận phù hợp với danh ấy. Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử”.[4]
2.    - Học thuyết Chính danh, một sáng kiến của Khổng Tử
Hầu hết các nhà Nho, các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử đều thừa nhận rằng học thuyết Chính danh là một sáng kiến mới của Khổng Tử. Do chính ngài quan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên cho ra trên, dưới cho ra dưới ; vua cho ra vua, tôi cho ra tôi,… nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh. Thực chất, học thuyết Chính danh không những chỉ có giá trị ở thời ông. Nói theo cách của học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết lời mào cho cuốn Khổng Tử đã phát biểu rằng : “Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó có giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.”
3.      -  Nội dung của học thuyết Chính danh
Các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử đều trích dẫn một số câu vấn-đáp của thầy trò Khổng Tử trong Luận Ngữ, Thiên Tử Lộ vì cho rằng đó là câu chìa khóa của học thuyết Chính danh. Tôi cũng xin chép ra đây để tham khảo.
“Tử Lộ viết : Vệ quân đãi Tử nhi vi chính, Tử tương hề tiên?
Tử viết: Tất dã chính danh hồ!
Tử Lộ viết : Hữu thị tai, tử chi vu dã, hề kỳ chính?
Tử viết: Dã tai Do dã! Quân tử ư kỳ sở bất tri, cái khuyết như dã. Danh bất chính tắc ngôn bất thuận. Ngôn bất thuận tắc sự bất thành. Sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng. Lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng. Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc. Cố quân tử danh chi tất khả ngôn dã. Ngôn chi tất khả hành dã, quân tử ư kỳ ngôn vô sở cẩu nhi dĩ hỹ.”[5]
Nghĩa là : Tử Lộ hỏi : Nếu vua nước Vệ mời thầy về giúp cai trị nước, thầy làm gì trước?
Khổng tử đáp : Tất phải lấy chính danh làm trước vậy!
Tử Lộ hỏi : Có việc ấy sao? Thầy vu khoát lắm! Thế nào gọi là chính danh?
Khổng Tử đáp: Anh Do quê mùa này! Người quân tử có điều gì mình không biết thì bỏ qua mà không nói. Nay danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành thì tất lễ nhạc không hưng thịnh. Lễ nhạc không hưng thịnh thì tất hình phạt chẳng đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép thì tất dân không biết đặt tay chân vào đâu để nhờ cậy. Cho nên người quân tử quan niệm được danh ắt nói ra được, mà nói ra được tất làm được. Người quân tử nói ra điều gì nên dè dặt không cẩu thả được!
Học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong Hồi Ký của mình rằng : “Thuyết chính danh của ông (Khổng Tử) đẻ ra thuyết giết một bạo chúa là giết một tên thất phu của Mạnh, bắt bọn cầm quyền phải có đức, phải thương dân; ông điều chỉnh lại quyền lợi, nghĩa vụ của vua tôi; ông lại đào tạo một giai cấp mới : Kẻ sĩ để trị nước, thay thế bọn quý tộc thiếu tài, thiếu đức, giai cấp đó đa số sống ở trong giới bình dân, địa chủ mới và thương dân mà ra.”[6]
Học thuyết chính danh của Khổng Tử không chỉ chỉ được áp dụng trong chính trị, cai trị mà còn được ông áp dụng trong cách gọi tên sự vật, đồ vật. Sách Nho Giáo có câu chuyện về cái bình đựng rượu được gọi là cái “cô”. Thời trước Khổng tử, cái bình đựng rượu có cạnh góc người ta gọi là cái “cô”. Đến đời Khổng Tử, người ta làm cái bình đựng rượu bỏ cạnh góc đi mà vẫn gọi là cái “cô”, Khổng Tử không hài lòng về tên gọi này vì theo ông, nếu cái bình đựng rượu muốn được gọi là cái “cô” thì phải phục hồi hình dạng cũ của nó. Còn nếu không thì gán cho nó một cái tên mới mà không gọi là cái cô nữa. (Khổng Tử, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Hóa 1995).
Qua hai dẫn chứng trên chúng ta thấy Khổng Tử rất coi trọng tôn ti, trật tự, trên dưới, mà tư tưởng này đã có trước thời Khổng Tử rồi. Nó bị biến dạng dưới thời ông, do đó, ông xiển dương học thuyết Chính danh để sửa trị lại trật tự xã hội, sự cai trị. Đặt sự vật với đúng tên gọi của nó (trường hợp cái “cô”).
Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện “Chính danh”. Mỗi cái danh đều mang trong nó những điều kiện bản chất mà vật mang danh ấy phải thực hiện cho đúng. Trong xã hội vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, … Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử. Sau này các triết gia Trung Quốc đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển nó dựa trên nền tảng mà ông đã đưa ra.
Mặc Tử có quan niệm khác về danh và thực. Nếu Khổng Tử đưa ra sự phù hợp giữa danh và thực theo nghĩa mang danh nào thì phải có tính chất đúng với cái danh ấy thì Mặc Tử lại có quan điểm “thủ thực dữ danh”, tức là phải dựa vào sự vật và hành vi trong tồn tại mà đặt tên. Phát triển quan điểm đó Mặc Tử còn đưa ra ba tiêu chuẩn (tam biểu) để đi tìm cái đúng : căn cứ vào những kinh nghiệm của các thánh nhân đời xưa, căn cứ trên kinh nghiệm của bách tính, và căn cứ trên sự xác nhận của thực tiễn khi đem một chính sách ra dùng.
Tuân Tử thuộc Nho Gia kế thừa học thuyết của Khổng Tử kết hợp với những thành quả của Mặc Gia đã thành lập một hệ thống lý luận khá chặt chẽ, làm nền tảng cho sự diễn tả thuyết chính danh Nho học của ông.
4.      - Nhận định và phê bình về thuyết Chính danh.     
Học thuyết Chính danh do Khổng Tử sáng kiến cách đây hơn 2.500 năm từ thời Trung Quốc còn đang ở chế độ phong kiến phân quyền với lòng mong muốn của ông phục hồi lại chế độ, lễ lạc tốt đẹp của thời nhà Chu ban đầu khi ông nhận thấy tình trạng xã hội khá lộn xộn, mất tôn ti trật tự. Ông vốn là người khoan hòa, tuy có tư tưởng cách mạng nhưng không thích chiến tranh, do đó ông mới đề ra học thuyết Chính danh để cải tạo xã hội một cách dần dần.
Theo cách nói của học giả Nguyễn Hiến Lê thì “Nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.” Chính danh là làm việc không mờ ám, không che dấu sự thật hoặc bóp méo sự thật. Thiết nghĩ rằng, chúng ta còn phải tiếp tục nêu cao chính nghĩa, nêu cao những tấm gương người tốt, việc tốt tiêu biểu để thu phục được lòng tin của nhân dân. Triết học Trung Hoa cổ, trung đại là một bộ phận quan trọng của triết học phương Đông, trong đó có thể nói Nho Gia là một trường phái quan trọng và có giá trị vào loại bậc nhất. Mặc dù ra đời để phục vụ cho chế độ phong kiến nhưng đến nay nhiều tư tưởng, quan niệm về xã hội, con người, đạo đức, giáo dục,… của Nho Gia vẫn còn giá trị và mang tính thời sự, như tư tưởng nhân nghĩa và học thuyết Chính danh. “Nhân nghĩa” có ý nghĩa trong mọi mặt của đời sống, nhưng “Chính danh” lại tác động sâu sắc tới việc đảm bảo trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt là ở lĩnh vực chính trị.
“Chính danh” theo Khổng Tử đề xướng là một nguyên tắc cai trị xã hội, được hiểu là : một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với cái danh nó mang, có nghĩa là đảm bảo sự phù hợp giữa cái danh và cái thực. Đây là một học thuyết có giá trị không chỉ trong thời phong kiến mà cả trong thời hiện đại. Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện “Chính danh”. Mỗi cái danh đều mang trong nó những điều kiện bản chất mà vật mang danh ấy phải thực hiện cho đúng. Trong xã hội vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, … Đó là ý nghĩa thuyết Chính danh của Khổng Tử. Sau này các triết gia Trung Quốc đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển nó dựa trên nền tảng mà ông đã đưa ra. Người nào cũng phải công nhận rằng học thuyết Chính danh là một sáng kiến của ông và đó là sự đóng góp quan trọng của ông cho Trung Quốc nói riêng và nhân loại nói chung.
Tuy nhiên bên cạnh đó học thuyết Chính danh cũng có một số hạn chế đó là lối sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Trong gia đình, người cha, người chồng, người anh cả là người có quyền lực cao nhất, người phụ nữ trong gia đình bị phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, không có quyền tham gia vào những việc đại sự trong gia đình. Đặc biệt đạo “tam tòng” (Tại gia tòng phu, xuất gia tòng phụ, phu từ tòng tử), (ở nhà thì phải nghe theo cha, đi lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) đã trói buộc người phụ nữ họ không có quyền tự chủ quyết định cuộc đời và tương lai của mình.
Ở Việt Nam, học thuyết Chính danh cũng như Nho giáo nói chung đã góp phần hình thành nên hệ thống tư tưởng triết học mang đậm bản sắc dân tộc. Trong khi các nguyên tắc cai trị xã hội của Nho giáo Trung Hoa có phần cứng nhắc và hà khắc thì ở Việt Nam thấm sâu tình nhân ái và lòng yêu nước được đặt lên hàng đầu.
Nói tóm lại thuyết chính danh cũng như Nho giáo có vai trò quan trọng trong nền triết học cổ, trung đại Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Và thuyết Chính danh nguyên thủy do Khổng Tử đề xướng là nền tảng để các nhà Khổng giáo đời sau phát triển cho phù hợp với xã hội Trung Quốc luôn biến chuyển góp phần ổn định trật tự xã hội. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1/ Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương, Hồ Thích, bản dịch của dịch giả Minh Đức, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004.
2/ Khổng Tử của học giả Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Hóa 1995.
3/ Nho Giáo Quyển Thượng của cụ Trần Trọng Kim, Trung Tâm Học Liệu xuất bản 1971.
4/Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc, Phùng Hữu Lan, bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Dương, NXB Thanh Niên.
5/ Lịch Sử Triết Học Phương Đông tập I của học giả Nguyễn Đăng Thục, NXB TP. Hồ Chí Minh 2001.
6/ Nho Giáo Trung Quốc của nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan.
7/ Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học tái bản lần VI 2006.
8/ Tứ Thư, Đoàn Trung Còn dịch, NXB Thuận Hóa 2006.


[1] Luận Ngữ, thiên Thuật, Đoàn Nhi (rút ra từ tập Tứ Thư Trung Còn dịch, NXB Thuận Hóa 2006).
[2] Học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết về Khổng Tử thì chỉ dùng bộ Luận Ngữ mà thôi.
[3] Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương, Hồ Thích, Minh Đức dịch, NXB Văn Hóa Thông Tin 2004, tr.156.
[4] Sđd tr. 57
[5] Luận Ngữ, Thiên Tử Lộ trong bản in Tứ Thư của dịch giả Đoàn Trung Còn, NXB Thuận Hóa 2006, tr. 196-198.
[6] Xem Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học 2006 tái bản lần thứ 6, tr.722.
                                                      
                                                                                                                                        Paul Alex

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Đạo đức học của Plato và ảnh hưởng của nó trên các trường phái triết học

Học thuyết đạo đức của Plato đã chống lại học thuyết hoài nghi của các nhà ngụy biện, ông nêu lên khái niệm của Socrates “Tri thức là đức hạnh” và khai triển khái niệm này bằng cách thêm vào hai yếu tố chính đạo đức học cá nhân và xã hội : chúng ta sẽ lần lượt xem xét hai yếu tố này.
                                                                     
1.    Đạo đức học cá nhân

1.1  Plato nói về đạo đức học cá nhân trong ý tưởng về linh hồn
Plato mô tả linh hồn gồm có ba phần : lý trí, tinh thần và dục vọng[1]. Trước hết có sự ý thức về mục tiêu hay giá trị, đây là hành vi của lý trí. Kế đến có một lực thúc đẩy hành động, đó là tinh thần, ban đầu mang tính trung lập, nhưng rồi ngả theo đường hướng của lý trí. Sau cùng, có ham muốn về những điều của thân xác, đó là dục vọng. Như ông đã minh họa trong quyển Phaedrus như sau :  “Người đánh chiếc xe có hai con ngựa kéo, một con là ngựa tốt, không cần roi vọt gì cả. chỉ cần anh đánh xe nói và hướng dẫn là đi đúng đường. Còn con kia là ngựa xấu, ngang ngược và bất kham … dùng roi vọt cũng không trị nổi nó. Mặc dù anh đánh xe biết rõ mình phải đi đâu và con ngựa tốt đang chạy đúng đường, nhưng con ngựa xấu lồng lên và chạy loạn xạ, gây đủ thứ rắc rối cho con ngựa bạn và anh đánh xe. Cảnh hai con ngựa chạy theo hai hướng nghịch nhau và anh đánh xe thất vọng đứng nhìn vì con ngựa không nghe theo lệnh của anh, đánh động mạnh trí tưởng tượng của chúng ta, vì nó cho thấy rõ sự phá vỡ trật tự. Người đánh xe, vì là người cầm cương ngựa, có bổn phận, quyền và chức năng hướng dẫn điều khiển hai con ngựa. Cũng vậy, phần lý tính của linh hồn có quyền điều khiển phần tinh thần và phần dục vọng. Hiển nhiên anh đánh xe không thể đi đâu nếu không có hai con ngựa, vì vậy cả ba phải liên kết với nhau và làm việc chung với nhau để đạt các mục tiêu chung”[2]
Đối với Plato, đức hạnh bị trói buộc theo lý thuyết về bản chất tự nhiên của vũ trụ. Ông cho rằng, thế giới của nhận thức là điều hão huyền, biến đổi và phù du. Đây chính là cái ác. Một thế giới trần tục tinh khiết, những mẫu mực lý tưởng không thay đổi là một thế giới của cái thiện. Con người chỉ có thể hiểu được thế giới trần tục này thông qua sự nhận thức. Do đó, sự nhận thức là cái thiện hoàn hảo nhất đối với con người. Mục đích hay mục tiêu của cuộc sống là giải thoát linh hồn khỏi thể xác để có thể suy gẫm về ý tưởng của thế giới đích thực. Nhưng con người có thể sống một cuộc sống chính đáng, dù bị kiềm giữ trong thể xác và giữ nguyên những tàn dư vật chất thay đổi trên thế gian. Plato cho rằng, điều này có thể thực hiện được, miễn là phần lý trí của con người quyết định mọi hành động của họ. Con người gồm có ba phần. Sự thèm muốn của con người có liên quan đến chức năng và ham muốn của thể xác. Phần ý chí hoặc tinh thần được cho là do hành động, lòng can đảm và sự dũng cảm của con người. Lý trí được coi là phần cao cả nhất, tốt đẹp nhất của con người. Một người sống một cuộc sống tốt đẹp là khi lý trí quyết định sự mong muốn, nguyện vọng và sự thèm muốn của người đó, và kết quả là người đó trở thành một con người khôn ngoan, ôn hòa và dũng cảm. Do đó, một cuộc sống có lý trí là cái thiện cao cả nhất của con người, đó là một cuộc sống chú ý đến sự khôn ngoan, can đảm và biết làm chủ bản thân. Theo Plato, kiểu sống này sẽ là một cuộc sống hạnh phúc. Niềm hạnh phúc và cái thiện cùng đồng hành với nhau. Tuy nhiên, một người không nên đi tìm sự hưởng thụ vật chất giống như đích đến của cuộc đời. Sự khoái lạc chỉ có khi một người đã có được một đời sống tốt đẹp, một đời sống mà ở đó lý trí quyết định ý chí, nguyện vọng và sự thèm muốn của con người. 

1.2  Đức hạnh như là một chức năng của linh hồn
Lý tính và phi lý tính. Phi lý tính gồm hai phần : tinh thần và dục vọng. Phần lý tính được tạo dựng bởi Tạo Hóa – linh hồn của Vũ Trụ. Phi lý tính được tạo dựng bởi các thần linh. Phần phi lý tính là phần không hoàn hảo nó kéo linh hồn rơi xuống nhập vào một thân xác. Vì vậy linh hồn muốn tìm về chỗ cũ của nó, nó phải hướng thượng. Chính vì thế mà đạo đức học của Plato là đi từ trên xuống và mình phải bắt trước. Linh hồn có một bản chất bất trị và xấu nơi những thành phần phi lý tính của nó, nguyên nhân của cái ác đã tồn tại ngay từ tình trạng tiền hiện hữu của linh hồn.
Linh hồn là hoàn hảo theo bản tính. Khi linh hồn từ bỏ thế giới hình thức nhập vào thân xác, nó đi từ thế giới cái một sang thế giới cái nhiều. Linh hồn trôi dạt giữa biển cả rối rắm của muôn vàn sự vật và chịu tác động của mọi thứ sai lạc do bản chất lừa dối của các sự vật. Trong thân xác, linh hồn cảm nghiệm cảm giác ham muốn, lạc thú, đau đớn cũng như sợ hãi và tức giận. Linh hồn cũng cảm nhận được sự yêu thích với một loạt những sự vật đa dạng từ miếng ăn đơn sơ nhất đến nếm cảm sự ngọt ngào của tình yêu, chân lý, cái đẹp thuần túy và vĩnh cửu. Thân xác như một chướng ngại vật khó chịu đối với linh hồn. Khi nhập vào thân xác, sự hài hòa ban đầu của các phần khác nhau của linh hồn tiếp tục bị đảo lộn, tri thức trước kia bị bỏ quên, mà tính trì trệ của thân xác như là một chướng ngại vật khó chịu làm cản trở sự phục hồi tri thức.
Vậy làm thế nào để phục hồi đạo đức đã mất? Plato cho rằng : Lý trí phải dành lại quyền điều khiển các phần phi lý tính của bản ngã. Chỉ tri thức là có khả năng tạo ra đức hạnh, bởi vì chính sự ngu dốt hay tri thức sai lạc đã tạo ra cái ác. Tri thức nằm sâu trong ký ức trí khôn. Những gì linh hồn biết trước kia bây giờ nhớ lại. Nó di chuyển từ bóng tối ra ánh sáng, từ mê muội sang hiểu biết. Phải có một tác nhân bên ngoài giúp linh hồn thức tỉnh, bắt linh hồn đứng dạy, quay lại…và vươn tới ánh sáng. Khi trí khôn đi từ mức độ thấp lên cao, nó dần nhớ lại những gì nó đã biết trước đây và cần phải biết để đạt sự hòa hợp nội tâm. Sự phát triển đạo đức song song với tri thức của người ấy, vì sự tăng trưởng tri thức làm gia tăng tình yêu đối với chân, thiện và mỹ (cái đẹp)[3]. Đức hạnh là tri thức, vì đó là hành trình đi tìm kiếm khôn ngoan để biết hành động nào là đúng thật sự, tri thức đích thực về những hậu quả của mọi hành vi, đức hạnh là sự hoàn thành một chức năng độc đáo.
Đời sống tốt lành là đời sống có sự hài hòa nội tâm, an lạc và hạnh phúc . Lý trí có một chức năng và chỉ tốt khi nó hành động đúng. Dục vọng có chừng mực, không lấn lướt lý trí, quân bình trong lạc thú và ước muốn sẽ dẫn tới đức hạnh tiết độ. Ý chí thuộc phần tinh thần của linh hồn, giữ giới hạn và chừng mực, tránh hành động nông nổi, trở thành sức mạnh đáng tin cậy dẫn tới đức hạnh can đảm. Lý trí không để mình bị khuấy động bởi những dục vọng dẫn tới đức hạnh khôn ngoan. Tiết độ là sự kiểm soát hợp lý các dục vọng. Can đảm là sự sai khiến hợp lý của tinh thần. Mỗi phần hoàn thành chức năng chuyên biệt của mình sẽ dẫn tới đức hạnh công bằng. Công bằng là đức hạnh tổng hợp, nó phản ánh sự đạt tới an lạc hài hòa nội tâm của con người. Điều này chỉ đạt được khi mỗi phần của linh hồn hoàn thành đúng chức năng của mình. Như vậy, công bằng là sự hài hòa bên trong linh hồn giữa ba quan năng : lý trí, tinh thần và dục vọng. Công bằng là tạo điều kiện cho con người hoàn thành chức năng của mình.

2. Đạo đức học xã hội.
Ba cấp nhà nước là sự mở rộng của ba thành phần linh hồn, gồm : triết gia vua (Vàng), giai cấp những người giữ gìn an ninh (Bạc) và gia cấp thương gia cùng các thợ thủ công (Đồng). Vậy muốn có một xã hội tốt lành thì phải tạo ra một xã hội công bằng. Công bằng trong xã hội chính là tạo điều kiện cho con người hoàn thành chức năng của mình. “Công bằng khi thể hiện ra đời sống chính trị thành quốc cũng là sự hài hòa giữa ba thành phần xã hội : triết gia vua, gia cấp những người giữ gìn an ninh và gia cấp thương gia cùng các thợ thủ công. Công bằng là sự đồng thuận hoàn hảo, sự hài hòa trên dưới của cả ba : những thèm muốn (dục vọng) lệ thuộc vào tâm hồn (tinh thần) và tâm hồn vào lý trí, cũng như công bằng xã hội là sự hài hòa trên dưới của ba giai cấp cần thiết cho nhau : những người cai trị, những chiến sĩ hay những người giữ an ninh và những người thợ thủ công làm công việc sản xuất”[4].
3. Ảnh hưởng đạo đức học của Plato đến các trường phái triết học : chủ nghĩa Khắc Kỷ, Tân Plato, Thánh Augustinô và Trên Xã Hội, Tổ Chức, Hội Dòng.
3.1 Đối với chủ nghĩa Khắc Kỷ
Quan niệm rằng vũ trụ và thượng đế là một, sống minh triết là không sống theo những đam mê nhục dục, biết được cái vận mệnh, biết phân biệt cái thay đổi và không thay đổi, đóng trọn vai trò của mình trong vở kịch định mệnh (nhân loại). Trường phái này đã dựa trên đạo đức học của Plato : định mệnh là sự giằng co giữa hai lực, lực vật chất thì kéo xuống còn lực của hồn thì kéo lên ; thuyết chính trị của Plato : Vua, Lính và Thương Gia, và dựa trên thuyết hồn của Plato dùng lý trí để điều khiển tinh thần và dục vọng.

3.2 Đối với Tân Plato
Nỗ lực kết nối giữa Plato (hình học) và Aristotle (siêu hình học). Thuyết lan tỏa : hồn vũ trụ sinh ra các cái hồn khác. Theo Plato cái hồn vũ trụ được tạo dựng từ ý niệm và vật chất. Đối với vấn đề đạo đức, con người biết con đường đi lên và bản chất của sự thiện hảo.

3.3 Đối với Thánh Augustinô
 Khao khát của con người tạo vật hữu hạn đam mê cái vô hạn (hình ảnh con chim trong lồng của Plato). Do đó chỉ có cái vô hạn (Thiên Chúa) mới thỏa mãn cái mà con người tìm kiếm sự thiện hảo. Bản chất con người là hữu hạn, vì vậy con người phải sống trong tình yêu, sống theo trật tự sau:
* Thiên Chúa
* Chính Mình
* Tha Nhân
* Sự Vật
Hồn chỉ thỏa mãn với những cái gì bất diệt thôi. Đối với Plato ; hồn luôn đánh động con người để trở về với cái ý niệm (hồn) theo thuyết hồi tưởng của ông. Còn Thánh Augustinô : con người cần phải trở về với chính mình để tìm kiến sự Thiện Hảo (thuyết soi sáng của Augustinô)
3.4 Đối với xã hội, tổ chức hay hội dòng
            Tư tưởng cảm nghiệm tôn giáo của đấng sáng lập (viễn tưởng), qui tụ các môn đệ và bành trướng ý tưởng ban đầu sau đó phát triển mạnh mẽ, qui chế hệ thống, sống theo luật và hiến pháp, tranh chấp và cách sống hiến pháp, khủng hoảng, canh tân, giải tán và ly khai. Khi canh tân người ta  phải trở về với ý tưởng ban đầu, cắt bỏ những cái không phù hợp. Qua tiến trình trên ta thấy xã hội phản ảnh sự quân bình của con người. Xã hội muốn có trật tự, ổn định thì con người trong xã hội đó phải sống quân bình. Đạo đức học cá nhân của Plato cho thấy rõ hồn ở trong xác, xác làm cho hồn nặng nề, con người phải sống hài hòa quân bình với chính mình với thiên nhiên và với vũ trụ.
4. Ưu và Khuết điểm đạo đức học của Plato.
4.1 Ưu điểm
Plato đặt nền tảng đạo đức trên cái mô biểu, thế giới phản ánh cái thực tại sâu hơn nó, hình bóng phản ánh thực tại, những gì ta sống là phản ánh thực tại. Cá nhân tìm sự quân bình, lý trí điều khiển đam mê và dục vọng. Xã hội vua phải lãnh đạo lính và thương gia. Đạo đức học của Plato nói lên được cái cốt lõi của con người và xã hội là sự Thiện Hảo.
4.2 Khuyết điểm
Quá lý tưởng khó mà áp dụng cho xã hội dân chủ ngày nay. Con người có sự khao khát thiện hảo, nhưng ai có thể nói về cái ý niệm tuyệt đối và thiện hảo? Khía cạnh cá nhân lý trí điều khiển tinh thần và dục vọng, nhưng con người còn phức tạp hơn nữa : nó có bản năng, siêu ngã. Đạo đức học của Plato quá đơn giản, chưa giải quyết được cái tất định và tự do.     
                                                                                                                          Paul Alex


[1]Sđd Trang 57
[2]Sđd Trang 58
[3] Sđd, Trang 61
[4] Hỏi Đáp Triết Học Tập III, Lịch Sử Triết Học Tây Phương, NXB Trẻ, Trang 29, 30

                                                                                                                                          Paul Alex

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011

Socrates đã phân biệt giữa “Logos” và “Mythos” như thế nào qua vấn đề đạo đức?

Socrates(469 – 399BC), một nhà triết gia cổ đại Hy lạp đã để lại cho hậu sinh một cái nhìn mới của việc nghiên cứu về con người, về đạo đức và về nhân sinh quan. Ông xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen. Cuộc đời của ông gắn liền với nền triết học về con người. Trong đó, vấn đề đạo đức của con người đã được ông làm cho chúng ta phải quan tâm và tìm hiểu. ông đã đưa ra chủ trương mới của vấn đề đạo đức qua “Logos” chứ không phải “Mythos” mà một số trường phái khác quan niệm.
                                                            
Đối với vấn đề đạo đức, Logos” chính là dùng lý trí để hiểu về đạo đức, tức là đạo đức không phụ thuộc vào bất kì ai kể cả thần thánh vì bản chất của nó là đạo đức. Còn đối với “Mythos”, đạo đức chính là vì thần thánh yêu mến nên những gì thần thánh yêu mến là đạo đức. Qua cuộc đối thoại giữa Socrates và Euthyphro, chúng ta thấy rằng hai nhân vật này có hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề đạo đức. Đối với Euthyphro, ông đã tố cáo cha mình về tội giết một đầy tớ phạm tội giết người đã bị chết cách bất công vì bị trói chân tay bởi ông chủ của mình.  Euthyphro nghĩ rằng, làm như vậy là làm hài lòng thần thánh, là một hành vi đạo đức kể cả việc đưa cha của mình ra kiện. Ông quan niệm rằng, đạo đức là luôn làm đẹp lòng thần thánh, là làm điều tôi đang làm; nghĩa là trừng trị bất cứ ai phạm tội giết người, phạm thánh hay bất cứ trọng tội nào tương tự, dù nngười ấy là cha hay mẹ, hay bất cứ ai không có sự phân biệt, không trừng trị họ là vô đạo đức.
Sự phân biệt giữa Logos và Mythos của Sacrates được thể hiện qua cuộc đối thoại giữa ông với Euthyphro. Socrates đã đưa ra nhiều vấn đề và quan điểm của mình để phản kháng lại những tư tưởng của Euthyphro. Tuy nhiên, giữa Socretes và Euthyphro có một điểm chung với nhau đó chính là làm cho linh hồn mình trở nên tốt hơn. Theo Socrates, tri thức và đức hạnh là một. Tri thức là những gì liên quan đến sự hiểu biết, ý nghĩa, thông tin, giảng dạy, giáo dục, giao tiếp, diễn tả, học hỏi  kích thích trí óc. Hay nói đúng hơn tri thức chính là “Logos” về vấn đề đạo đức. Còn đức hạnh là những phẩm chất tốt của con người để làm đẹp lòng thần thánh hay Đấng mình tôn thờ. Socrates đã định nghĩa đức hạnh có nghĩa là hoàn thành chức năng của mình. Là một hữu thể có lý trí, chức năng mỗi người là cư xử theo lý trí để đạt được hạnh phúc đích thực của mình. Vì vậy, giữa Logos và Mythos có một điểm chung là hướng con người đạt đến hạnh phúc.
Tuy nhiên, theo Socrates đạo đức không dừng lại ở chỗ làm các thần hài lòng mà nó vượt lên trên cả những gì mà thần thánh yêu mến vì bản chất tự nó là đạo đức. Socrates đã đưa ra một lời lý giải cho vấn đề đạo đức dựa theo Mythos; thần thánh cũng có những mối quan hệ bất đồng, những thù hằn, ghen ghét và khác nhau. Thế nên, những việc chúng ta làm đẹp lòng thần này thì lại mất lòng thần kia. Vậy, vấn đề đạo đức nằm ở đâu? Socrates cho rằng: cái đạo đức hay thánh thiện được các thần yêu thích vì nó là thánh thiện chứ không phải nó là thánh thiện vì nó được các thần yêu thích.  Ông còn đưa ra mối tương quan giữa đạo đức và công bằng, đạo đức là một phần của công bằng. “Mythos”đã đưa ra đạo đức hay sự thánh thiện là phần của sự công băng chăm sóc cho các thần, cũng như có phần kia của sự công bằng chăm sóc cho con người. Thế nhưng, “logos” đã phản kháng vấn đề chăm sóc cho các thần hay là nghệ thuật phục vụ các thần là để cầu xin điều chúng ta muốn. Như vậy chẳng khác nào là một cuộc trao đổi hay là một cuộc thương lượng với các thần để đôi bên cùng có lợi. Tư tưởng đạo đức của Socrates là chúng ta hoàn thành những chức năng của mình. Là một hữu thể có lý trí, chức năng của con người là cư xử theo lý trí để tìm sự hạnh phúc hay sự tốt lành của linh hồn mình. Vì chúng ta khát vọng hạnh phúc, chúng ta sẽ chọn những hành vi mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Điều này đi ngược lại với “Mythos” là chúng ta đạt được hạnh phúc là do thần thánh ban cho.
Tuy có những mối liên hệ giữa Logos” và “Mythos” là hướng con người đạt đến hạnh phúc đích thực nhưng Socrates, một triết gia cổ đại Hy Lạp đã làm chao đảo giới ngụy biện. Ông nói “Hãy tự biết lấy chính mình”.  Socrates tin rằng cơ cấu nền tảng của bản tính con người là vĩnh hằng nên cách thức hành động và một số giá trị đạo đức cũng là vĩnh hằng. Đây là cơ sở để ông chiến thắng chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa tương đối của các nhà ngụy biện. Ông là người đầu tiên vạch ra con đường cho nền triết học đạo đức trong lịch sử văn minh phương tây.

                                                                                                                           Paul Alex 

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Đạo đức và vai trò đạo đức trong đời sống con người

 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NƠI NGƯỜI TRẺ HÔM NAY
DẪN NHẬP
Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người.

Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức.
Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức ? Một vấn nạn không dễ trả lời.
Những giá trị cao đẹp vốn đã tồn tại bao đời, đang thiếu vắng nơi một bộ phận các bạn trẻ hôm nay. Là con người hoài vọng cho một tương lai sáng lạn, một đất nước giàu và đẹp, cho một tương lai nhân loại tươi sáng hơn, ai lại không băn khoăn, ưu tư trước những thách đố của thời đại, trong đó có vấn đề giá trị đạo đức nơi người trẻ, hay nói một cách thực tế hơn là nhân cách của giới trẻ.
Hàng ngày, chúng ta có thể xem thấy hay đọc được trên các phương tiện thông tin đai chúng những mảnh đời tươi trẻ đang sa vào vũng lầy của tội phạm, tiêm chích,… rồi rơi vào tuyệt vọng. Mang lấy kiếp người, không ai tránh khỏi đau khổ, nhưng có những cái đau đáng tôn trọng, có những cái đau đáng thương, có những cái đau để rèn luyện nhân đức con người và cũng có những cái đau chỉ mang lại thêm đau khổ. Những cái đau đớn do ngoại cảnh đem đến cho ta không nói làm gì, điều đáng nói ở đây là có những cái đau mình biết là do mình tạo nên, nhưng vẫn lao vào đó để chuốc lấy cũng như mang đến cho người khác thì thật đáng trách. Phải làm gì đây để quét sạch những cọng rác làm dơ bẩn sân chơi của cuộc đời ?
Dòng đời vẫn ngược xuôi tất bật, ngồi yên một mình trong phòng để suy nghĩ cũng không xong, mà nếu dạo quanh phố phường một vòng thì thấy toàn là những “điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nhìn những người trẻ sống vất vưởng bên dòng đời, tôi cảm thấy ưu tư, xót xa cho những số phận phũ phàng tang thương đó. Đây là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu này: một là để hiểu hơn thực trạng của đời sống người trẻ; hai là để hun nóng những ưu tư trong con tim mình nhằm có một hướng đi cho tương lai dâng hiến.
Đạo đức ngày nay bao gồm nhiều lãnh vực, chứ không gói gọn trong cách học làm người: Đạo đức sinh học, đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong chính trị, đạo đức trong nhà trường, đạo đức trong tôn giáo… mỗi một trong những nền đạo đức này nói lên một khía cạnh nào đó của cuộc sống con người. Giá trị của chúng khác nhau, tuy nhiên, chúng có một điểm chung là con người. Giá trị đạo đức thực là cái bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc hơn, sung mãn hơn.
“Giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay” không phải là một đề tài mới mẻ đối với quần chúng, vì thực tế đã có nhiều người viết và viết đến nơi đến chốn. Trong phạm vi và giới hạn của bài tiểu luận này, người viết không có tham vọng trình bày một cách rốt ráo mọi góc cạnh của đạo đức cũng như những thay đổi về giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay; người viết chỉ mong, qua tiểu luận này, nói lên những suy tư của mình về hiện tình sống của người trẻ cũng như là để tìm hiểu sâu hơn những gì đang diễn ra nơi họ.
I. ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
1. Đạo đức là gì ?
Để hiểu đạo đức là gì, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu từ nguyên của nó đã. Trong tiếng Việt, nghĩa của từ “đạo đức” và “luân lý” gần gần giống nhau. Để hiểu rõ nội dung của đạo đức cần đi tìm ý nghĩa của từ đạo đức và luân lý. Theo “Hán – Việt Từ điển” của Đào Duy Anh, đạo đức bao gồm “Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức – Cái lý pháp người ta nên noi theo”. (Đào Duy Anh, 1957) Theo Từ điển Tiếng Việt thì từ “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có.”. Còn từ “luân lý” có nghĩa là “những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội.” (Minh Tân-Thanh Nghi-Xuân Lãm, 1999).
Có lẽ nếu cứ viện dẫn tiếng Việt không thôi thì chưa rốt ráo lắm, chúng ta cần tìm hiểu tiếng nước ngoài xem. Theo từ điển từ nguyên thì “éthique” (tiếng Pháp) có nghĩa là đạo đức học hay luân lý học, còn tiếng Latin là “ethicus”. Từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “êthikos”, “êthikê”, “êthos” có nghĩa là phong tục, tập quán. Còn từ “morale” (tiếng Pháp) có nghĩa là luân lý học. Từ này bắt nguồn từ tiếng Latin là “mores”, có nghĩa là những thói quen (moeurs) (Larousse, 1971). Trong tiếng Anh, từ “ethics” (ethos: phong tục): “Đạo đức học hay luân lý học là môn học nghiên cứu tiêu chuẩn và nguyên tắc để xác định giá trị hành vi con người là tốt hoặc xấu.” (Thuật ngữ Thần học Anh – Việt, 2002). Còn từ “moral” là “những nguyên tắc quyết định điều tốt trong quan hệ đạo đức giữa người với người.” (Ibid.).
Theo “Từ điển Phật học Huệ Quang” của Thích Minh Cảnh, “Đạo đức” là “nguyên lý thiện ác, chánh tà có liên quan đến hành vi của nhân loại.” (Thích Minh Cảnh, ?). Hữu Ngọc-Dương Phú Hiếp-Lê Hữu thì quan niệm “Đạo đức hay luân lý là một trong những hình thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng”. (Hữu Ngọc-Dương Phú Hiếp-Lê Hữu, 1987, tr.145). Cũng những tác giả này, họ định nghĩa về môn học này như sau: “Đạo đức học hay luân lý học là khoa học triết học nghiên cứu đạo đức, – làm rõ vai trò nguồn gốc và sự phát triển của đạo đức trong lịch sử cũng như cơ sở lý luận của những hệ thống đạo đức cụ thể.” (Ibid).
2. Đạo đức theo quan niệm của các triết gia
Đạo đức là một đề tài rất thời sự và cũng rất quan trọng đối với cuộc sống con người. Theo quan niệm của Démocrite, “Đạo đức là đi tìm khoái lạc vì sự thiện là khoái lạc, còn sự ác là đau khổ. Để mang lại sự thiện thực sự, khoái lạc phải là sự hoan hỉ dài và trường tồn.” [1]
Socrate quan niệm rằng “con người có thể tìm hiểu những điều thuộc đời sống thực tiễn, để tìm thấy những chân lý khách quan về một nền đạo đức thực tiễn. Ông tin vào nhân đức, tin vào công lý và coi đó là cách sống hợp với ý muốn thần thánh.” [2] Con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc, -điều mà con người luôn khao khát tìm kiếm-, khi con người sống đúng đắn, nghĩa là sống hợp với những quy tắc đạo đức; còn nếu không, con người chỉ chuốc lấy khổ nhục. Vì lý do đó, ông thà chịu chết chứ không đi ngược lại với chân lý, -điều ông coi là quy tắc đạo đức phải sống. Một con người sống đạo đức, theo Socrate, phải là một con người có tri thức (khôn ngoan), sống điều độ, sống có kỷ luật (can đảm), có lòng kiên trì và biết làm việc nữa.
Platon đưa ra một hình ảnh điển hình để nói về đời sống đạo đức như sau:
“Con người là một chiếc xe song mã, với một con trắng và một con ngựa đen; con ngựa trắng thì đẹp đẽ, khỏe mạnh, nó yêu chuộng sự khôn ngoan và điều độ; ngược lại, con ngựa đen thì xấu xí và bướng bỉnh, nó cần tới những đòn roi mạnh mẽ có thể đi theo sự điều khiển của người đánh xe. Hai con ngựa đó, mỗi con kéo về một ngả, nên việc điều khiển cỗ xe này thật là khó khăn. Nếu trị được con ngựa đen, thì con ngựa trắng sẽ có thể kéo cỗ xe tiến bước theo đoàn xe của thần thánh, vươn lên tới thế giới ý tưởng để chiêm ngưỡng những thực tại vĩnh cửu, chân thực. Nhưng nếu không trị được con ngựa đen, thì cộ xe sẽ lê lết trong vật giới, sa lầy vào những sự vật của trần gian, đầy những ảo ảnh không chân thật.” [3]
Theo ý tưởng của Platon, con người phải có khôn ngoan và biết sống điều độ, nghĩa là phải biết làm chủ được bản thân mình để đạt được hạnh phúc. Đạo đức của Platon là những yếu tố như: hạnh phúc, chính trực và chiêm ngưỡng.
Trong sự nghiệp trước tác, Aristote không bỏ sót một vấn đề quan trọng liên quan đến cuộc sống con người, đó là luân lý. Đối với ông, luân lý đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống con người. Muốn sống hạnh phúc, con người phải sống có nhân đức. Nhân đức là một thói quen cần được tập luyện thường xuyên chứ không phải là nhất thời. Nhân đức là thái độ quân bình hay trung dung. Ông phân chia nhân đức ra làm hai loại là: nhân đức tinh thần gồm: óc phê phán, bình luận hợp lý hợp cảnh, tinh thần trật tự; và nhân đức luân lý: là những tập quán tốt giúp con người giữ mực chiết trung giữa thái quá và bất cập.
3. Vai trò đạo đức trong cuộc sống con người
Giả như con người không có nền đạo đức nào làm chuẩn mực để hướng dẫn những hành vi của mình thì con người cũng giống như bao nhiêu sinh vật khác vậy, không hơn không kém. Con người khác với con vật là ở chỗ, con người có tình yêu thương được thể hiện trong quan hệ giữa người với người. Những tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi giúp con người sống đúng với hữu thể có lý trí và linh hồn. Một xã hội mà trong đó con người không tôn trọng nhau, nghĩa là không được xây dựng trên những giá trị đạo đức thì xã hội ấy không còn là xã hội đúng như tên gọi của nó nữa. Một xã hội trong đó mọi người tôn trọng nhau, cư xử với nhau có trên có dưới thì xã hội đó mới thực là xã hội của con người.
“Đạo đức là cốt ở sống hợp với bản tính của con người. Các triết gia không đồng ý với nhau, khi cần phải định bản tính của con người là gì, điều này tùy thuộc vào quan niệm siêu hình của từng môn phái; nhưng tất cả đều đồng ý mà quả quyết rằng đời sống đạo đức là cốt ở sự thực hiện cứu cánh của con người đúng theo chân bản tính của nó. Như thế đạo đức không phải là gò ép con người và làm cho nó suy giảm, trái lại đạo đức là làm nảy nở tất cả những gì có giá trị nơi con người. Vậy đạo đức rất là quan hệ; không có đạo đức, người ta có thể làm một kỹ sư hay một thương gia tài giỏi, nhưng không có đạo đức thì không thể trở nên một con người hoàn hảo và không thể phát triển tất cả những gì cao quý tốt đẹp của bản thân chúng ta.” [4]
Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, ngay từ giây phút được dựng nên, con người đã được phú ban cho “cái đạo” và “cái đức” để khi sinh ra trên trần gian là biết sống đúng với phẩm giá rồi. Đạo đức có nhiều cấp bậc, nghĩa là nhiều tiêu chuẩn để đánh giá những hành vi nhân linh của con người; có thứ đạo đức xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng, đạo đức của người thầy thuốc, đạo đức của người làm nghề dạy học, đạo đức của người tu trì, đạo đức Công giáo, đạo đức Tin lành, đạo đức Nho giáo, đạo đức thương mại… mỗi một lãnh vực đều có những tiêu chuẩn riêng để giới hạn hay mở rộng phạm vi hoạt động của con người nhằm hạn chế những sai phạm của con người trong lãnh vực đó. Không ai phủ nhận vai trò đạo đức. Đạo đức nằm trong những phong tục tập quán của các dân tộc, trong luật pháp của các quốc gia, trong nền văn hóa của nhân loại. Không một nền đạo đức nào giống đạo đức nào, tuy nhiên tất cả mọi nền đạo đức đều hướng con người đến việc làm lành lánh dữ.
“Đời sống luân lý là một hiện tượng phổ quát. Không một dân tộc nào không có đời sống luân lý; không có một con người nào lại hoàn toàn không có cảm thức luân lý, cho dù các kiểu thứ để thực hiện luân lý có khác nhau. Như thế, người ta có thể thấy được rằng cảm thức về thiện-ác là cái có thực, có trong tất cả mọi người, có ở mọi thời và mọi nơi.” (Nguyễn Trọng Viễn, Triết họcNhập môn, Học viện Đa-minh, 1995, tr.104-105).
4. Đạo đức trong Nho giáo
Đạo đức Khổng – Mạnh không những ảnh hưởng chỉ riêng ở Trung Hoa, mà còn ảnh hưởng lên nhiều nước Á Châu, trong đó có Việt nam chúng ta. Nhân dân Việt Nam sống dưới ách thống trị phong kiến phương bắc ngót ngàn năm; cho nên, nền văn hóa của dân tộc ta chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa Trung Hoa, hay nói rõ hơn đạo đức của con người Việt mang đạm phong cách của người Trung Hoa. Khổng Tử nói: “Ta lý tưởng vào đạo, giữ vững vào đức, nương cậy vào nhân” (Chí vu đạo, cứ vu đức, y vu nhân – Luận Ngữ, Hình Nhi). “Ông cho rằng đạo là lý tưởng và chuẩn tắc hành vi cao nhất của chúng ta. Đức là sự thể hiện trong hành vi cụ thể. Nhân là gốc của đạo đức. Mạnh Tử tiến thêm một bước, cụ thể hóa nó thành Tứ đức (Nhân, lễ, nghĩa, trí) và ‘Ngũ luân’ (Quân thần-vua tôi, phụ tử-cha con, huynh đệ-anh em, phu phụ-vợ chồng, bằng hữu-bạn bè). Quan niệm đạo đức Khổng – Mạnh đều gợi mở từ sự tự giác trong nội tâm của người ta. Tuân Tử thì lấy Lễ làm gốc cho đạo đức, chủ trương tu thân bằng lễ (dĩ lễ tu thân), làm sáng chính trị bằng nghĩa (dĩ nghĩa minh chính). Đổng Trọng Thư thì căn cứ vào đấy để xây dựng thành đạo đức luân lý ý trời (thiên ý) làm trung tâm, lấy tam cương ngũ thường làm nội dung.” [5]
Có thể nói được rằng nền luân lý Việt Nam được xây dựng trên những nền tảng của Nho giáo, và nó có thế giá trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Những giá trị ấy có năng lực hướng dẫn con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Đất Nước. Không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của đạo đức Nho giáo trong những anh hùng hào kiệt con Rồng cháu Tiên như Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung,…
5. Đạo đức trong Giáo hội Công giáo
Đọc sách Sáng Thế, từ ngay những chương đầu, chúng ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng của một nền đạo đức. Sách Sáng Thế trình thuật chuyện Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh Người. Con người được sống trong tình trạng ân sủng dồi dào, được ban cho quyền làm chủ muôn loài. Con người được sử dụng mọi thứ, nhưng có một thứ Thiên Chúa cấm con người không được sờ mó tới, đó là không được ăn quả của “cây biết lành biết dữ”. Phải chăng đây là đạo đức mà Thiên Chúa muốn con người phải sống theo ? Vì theo định nghĩa, đạo đức là những tiêu chuẩn để thúc dục con người làm lành lánh dữ, là những nguyên tắc hướng dẫn hành vi của con người. Thế nhưng con người đã không sống theo thứ đạo đức mà Thiên Chúa đã ban cho con người, cho nên con người đã làm điều ác chống lại đạo đức. Đạo đức đảm bảo cho con người một cuộc sống hạnh phúc. Con người đã không sống theo đạo đức đó, vì thế con người phải chịu đau khổ thôi.
Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là con người được phú ban cho một nguyên lý tự nhiên gọi là “đạo” và tiếng nói sâu thẳm hay lương tâm gọi là “đức”. Nhưng lương tâm con người đã bị tội lỗi làm cho méo mó. Để điều chỉnh lại những sai lệch nơi con người, Thiên Chúa đã dùng Môi-sê làm trung gian để truyền cho con người phải làm điều này và không được làm điều kia, đó là luật luân lý hay mười giới răn. Mười điều luật này là quy phạm đạo đức hướng dẫn hành động của con người nhằm giúp con người đạt đến những giá trị siêu việt hay cuộc sống hạnh phúc viên mãn.
Giáo hội Công giáo, tiếp nối truyền thống Cựu Ước, rất tôn trọng những gì đã được ghi chép trong sách luật; đồng thời, nhằm thích nghi với những điều kiện sống hiện tại, Giáo hội còn đưa ra những quy tắc khác gọi là giáo luật để giúp con người đạt đến tình trạng tự do của con cái Chúa chứ không phải là con cái của nô lệ. Đạo đức đóng vai trò rất quan trọng đời sống Giáo hội. Nếu như không có luật Chúa hướng dẫn và giáo luật chi phối, con người dễ đi đến tự do phóng túng, đánh mất mình. Phải có thái độ nào với nền luân lý Công giáo ? Là tín hữu, chúng ta cần có thái độ tha thiết với luật Chúa trong đức tin vào Chúa Ki-tô để đạt được những điều Chúa đã hứa ban cho chúng ta.
“Thiên Chúa giáo nhận có Thượng Đế là Chúa tể càn khôn, Ngài đã dựng nên vạn vật và làm chủ muôn loài. Là tình yêu vô hạn, Ngài đã làm người vì yêu loài người và cũng để được loài người kính mến và thờ phụng Ngài trở lại, vì thế Ngài đã dựng nên loài người có lý trí và tự do, có lý trí để phân biệt thiện ác và có tự do để chọn điều lành lánh điều dữ.
Vậy sống đạo đức là vâng theo thánh ý Chúa mà lý trí chúng ta có thể tìm biết được. Sống theo ý Chúa tức là tuân giữ lề luật của Chúa mà tất cả lề luật của Chúa đều tóm tắt trong sự mến Chúa và yêu người, mến Chúa vì Chúa là cha chúng ta, yêu người vì người là hình ảnh của Chúa và là anh em của chúng ta.” [6]
Chúa Giê-su xuống thế không phải là để bãi bỏ những điều luật đã được lưu truyền mà là để kiện toàn. Người đã mạnh mẽ lên án những ai sống cậy thế vào luật lệ, sống hình thức bề ngoài, điển hình cho tầng lớp này là nhóm Pha-ri-sêu. Họ được coi là những người sống vì luật. Cái gì họ cũng đưa luật ra áp dụng, đến nỗi họ đã biến luật thành một gánh nặng chất lên vai người dân. Họ đã làm cho luật trở thành một cái ách cùm chân con người lại. Chúa Giê-su đến đả phá thái độ sống vị luật đó. Người chủ trương luật yêu thương, luật mang lại tự do thực sự cho con người, vì ách của Người thì êm ái, và gánh của Người thì nhẹ nhàng (x. Mt 11,30).
Thánh Phao-lô nhiều lần nói về vai trò của lề luật và tự do của con người. Chúng ta nên trích ra đây vài đoạn để thấy được tư tưởng của thánh nhân:
Thưa anh em, -tôi nói đây là nói với những người biết Luật- anh em không biết điều này sao: Luật chỉ có hiệu lực đối với người ta, bao lâu người ta còn sống? Tỉ dụ như người đàn bà có chồng, thì luật buộc theo chồng bao lâu chồng còn sống. Nhưng nếu chồng chết, thì vợ không còn bị luật ràng buộc với chồng nữa. Vậy bao lâu chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì sẽ bị gọi là kẻ ngoại tình. Nhưng nếu chồng chết, thì vợ được tự do không phải giữ luật đó nữa, và có đi lấy người khác, cũng không phải là ngoại tình. Đối với anh em cũng thế. Bởi được liên kết với thân thể Đức Ki-tô, anh em đã chết đối với Luật Mô-sê. Giờ đây, anh em thuộc về một người khác, tức là thuộc về Đấng đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết, để chúng ta sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa. Vì trước đây, khi chúng ta còn bị tính xác thịt chi phối, thì các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả đưa tới cái chết. Nhưng nay, chúng ta không còn bị Lề Luật ràng buộc nữa, vì chúng ta đã chết đối với cái vẫn giam hãm chúng ta. Như vậy, chúng ta phục vụ Thiên Chúa theo tinh thần mới, chứ không theo bản văn cũ của Lề Luật. Vậy phải nói sao? Lề Luật là tội chăng? Không phải thế! Nhưng tôi đã chẳng biết tội là gì nếu không có Lề Luật. Thật vậy, tôi đã chẳng biết ham muốn là gì, nếu Luật không dạy: Ngươi không được ham muốn. Tội đã thừa cơ, dùng điều răn mà làm nảy sinh trong tôi đủ thứ ham muốn. Thật vậy, không có Lề Luật thì tội đã chết rồi. Xưa kia, không có Luật thì tôi sống; nhưng từ khi có điều răn thì tội bắt đầu sống, còn tôi thì chết. Thành thử điều răn lẽ ra phải đưa đến sự sống, lại dẫn tôi đến chỗ chết. Quả thế, tội đã thừa cơ, dùng điều răn để quyến rũ tôi và cũng dùng điều răn đó để giết tôi.
Như vậy, Lề Luật là thánh, và điều răn cũng là thánh, đúng và tốt. Vậy phải chăng điều tốt lại đã gây nên cái chết cho tôi? Không phải thế! Nhưng chính tội đã dùng điều tốt mà gây nên cái chết cho tôi: như vậy, tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó. (Rm 7, 1-13).
Tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô vào thập giá.Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Ki-tô đã chết vô ích. (Gl 2,19-21).
Những điều thánh nhân đã nói trên cho chúng ta thấy rõ vai trò của lề luật đối với người Ki-tô hữu rồi, chúng ta không cần nói thêm nữa.
(còn tiếp)
Chú thích: 
[1] Nguyễn Trọng Viễn O.P., Lịch sử Triết học Tây phương, Tập 1 Thời Thượng cổ, Học viện Đa-minh, 1996, tr.111.
[2] Nguyễn Trọng Viễn O.P., sđd., tr.145.
[3] Nguyễn Trọng Viễn O.P., sđd,. tr.192
[4] Cao Văn Luận, Đạo đức học, quyển III, 1960, tr.5.
[5] Lão Tử-Thịnh Lê(cb), Từ điển Nho Phật Đạo, Nhà xuất bản Văn học, 2001, tr.363.
[6] Cao Văn Luận, Đạo đức học, quyển III, 1960, tr.33.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Charmaine Saunders, Tuổi thanh thiếu niên trong cơn khủng hoảng, (dg: Khánh Vân), Tủ sách Tâm lý giáo dục.
Đào Duy Anh, Hán – Việt Từ điển, Trường Thi Xuất Bản, 1957.
GS. Đặng Phương Kiệt, Stress & đời sống, NXB. Khoa học Xã họi, Hà Nội, 1998.
Hữu Ngọc-Dương Phú Hiếp-Lê Hữu, Từ điển Triết học Giản yếu, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987.
Jean Vieujean, Thanh niên, Phong trào Thanh – thiếu niên, Loại tâm lý, 1969.
Minh Tân-Thanh Nghi-Xuân Lãm, Từ điển Tiếng Việt, NXB. Thanh Hóa, 1999.
Nguyễn Thái Hợp, Giá trị đạo đức, Giáo trình sơ thảo, Học viện Đa-minh, 2004.
Nguyễn Trọng Viễn O.P., Lịch sử Triết học Tây phương, Tập 1 Thời Thượng cổ, Học viện Đa-minh, 1996.
Nhiều tác giả, Phép thử của những người trẻ, Báo Tuổi Trẻ & NXB. Trẻ, 2003.
Lão Tử-Thịnh Lê(cb), Từ điển Nho Phật Đạo, Nhà xuất bản Văn học, 2001.
Larousse, Nouveau Dictionnaire êtymologique dt historique, Librairie Larousse, Paris-VI, 1971.
Thích Minh Cảnh (cb), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 3: Đ-E-GI, (?).
Thuật ngữ Thần học Anh – Việt, Học Viện Đa-minh, 2002.
Trần Văn Hiến Minh, Từ điển và Danh từ Triết học, Tủ Sách Ra Khơi, 1959.
Vũ Hạnh, Tuổi trẻ nổi loạn, Kiến thức thời đại, 1973.


F.X. Trần Kim Ngọc, O.P.
Nguồn:  VietCatholic News (Thứ Bảy 11/10/2008 17:57)

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

"Nhân" trong luận ngữ của Khổng Tử

Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất.

Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai trò lịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận. Dường như mỗi một bước tiến mới của lịch sử thì từng vấn đề trong nội dung của Nho giáo lại được đề cập, xem xét lại và được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Có thể nói, một học thuyết ra đời cách đây hơn 2.500 năm đã được sự kiểm chứng của thời gian thì giá trị của nó về mặt lý luận và thực tiễn là điều chúng ta không dễ bỏ qua. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ muốn góp thêm tiếng nói về một khía cạnh mà, theo chúng tôi, mang tính tích cực và có ý nghĩa đối với chúng ta trong thời đại ngày nay. Đó là tư tưởng "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử.
Khái niệm "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới nội dung của khái niệm này trong Luận ngữ. Luận ngữ là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, tác phẩm này do nhiều người ghi và ra đời sớm nhất cũng là sau khi Khổng Tử đã mất chừng bảy mươi hoặc tám mươi năm. Chính vì vậy mà nhiều điều do Khổng Tử nói ra đã không được các học trò của ông ghi lại đầy đủ. Điều đó khiến chúng ta gặp không ít khó khăn khi nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử. Trong Luận ngữ có nhiều khái niệm được lặp lại nhiều lần. Chẳng hạn như khái niệm "Nhân"- 109 lần, khái niệm "Người quân tử"- 107 lần, khái niệm "Lễ" - 74 lần, khái niệm "Đạo", 60 lần. Do đó, trong giới nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nội đung của các khái niệm này.
"Nhân" trong Luận ngữ của Khổng Tử là một trong những khái niệm nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người lại cho rằng "Lễ" mới là nội đung cơ bản của tác phẩm và có người còn coi cả "Nhân" và "Lễ" đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Theo chúng tôi, quan niệm coi "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ, là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử - đó là quan niệm chính xác, đúng đắn. Chúng tôi đồng ý với quan niệm này không phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm "Nhân" được nhắc tới nhiều lần trong tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc lúc bấy giờ, Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà "Chiến tranh là phương thức phổ biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời". Trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi, mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suốt cuộc đời mình, Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề này. Ông nói: "Ta 15 năm tuổi để chí vào việc học (đạo), 30 tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm), 40 tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ), 50 tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được), 60 tuổi đã biết theo mệnh trời, 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý". Với một con người suốt đời "học không chán, dạy người không mỏi", lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lòng nhân rộng lớn biết bao.
Trong Luận ngữ, khái niệm "Nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. “Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. "Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả. Về điều này, Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là "trung thứ". "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó. "Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người.
Dù trong Luận ngữ có nhiều sự giải thích khác nhau về "Nhân", song sự giải thích trong thiên "Nhan Uyên" là có tính chất bao quát hơn cả. Có thể nói, ở đây "Nhân" trong quan niệm của Khổng Tử là "yêu người" (Luận ngữ, Nhan Uyên, 21). Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều "Nhân". "Nhân" là "yêu người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghét người". Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghét người". Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân mới thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3).
Có người cho rằng, "Nhân" (người) trong "ái nhân" (yêu người) là chỉ con người trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêu người trong giai cấp phong kiến. Thực ra, khái niệm "Nhân" (người) mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ'. Do đó, đi liền với "Nhân" (người) là các khái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân", "thánh nhân", "tiểu nhân"... Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau. "Thánh nhân" là người có đạo đức cao siêu, "tiểu nhân" là người có tính cách thấp hèn… "Nhân" ở đây là chỉ con người nói chung và "ái nhân" là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ.
Trong Luận ngữ, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm "Nhân" (yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả. Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ. Có lần một học trò của Khổng Tử là Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: "Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thì làm thế nào phân biệt được". "Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ. Lại một lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói gì tới ngựa cả. Điều đó cho thấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là sự sống còn của ngựa (tức là của cải). Tư tưởng "Nhân" là "yêu người" của ông thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc.
Coi "Nhân" là "yêu người", trong Luận ngữ, Khổng Tử đã dành không ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về "Nhân", Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân. Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?" (Luận ngữ, Nhan Uyên, l). Trọng Cung - một học trò khác của Khổng Tử hỏi về "Nhân", Khổng Tử cho rằng, những cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh của người nhân (Xem: Luận ngữ, Nhan Uyên, 2). Còn khi Phàn Trì hỏi về "Nhân", Khổng Tử giảng giải rằng, “khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung, khi làm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đức trung thành. Dẫu có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 19). Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Ông nói: "Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người" (Luận ngữ, Dương Hoá, 6). Không chỉ thế, người nhân, theo Khổng Tử, còn là người mà "trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả" (Luận ngữ, Ung dã, 20), và "người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 27). Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản. Do vậy, theo ông, người nhân "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân" (Luận ngữ, Lý nhân, 5).
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là "yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm người - sống với mình vả sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông. Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả dối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa... Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia". Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ...
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Nếu tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân của mình, không phân biệt riêng tư thì "Nhân" phân biệt mình và người, lấy mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt người tất, kẻ xấu. Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến"giao tương lợi". Tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Phật thương người và thương cả vạn vật. Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần chứ không phải ở trên cõi niết bàn. Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á thì nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng. Có thể nói "Nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đông của Châu Á này.
Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn năm một phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử. Nhờ có đường lối "nhân nghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững. Sự trì trệ của xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử.
                                                                                                                                     
Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước. Con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình. Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa. Xã hội ngày nay vẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con người này rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng. Do vậy, tư tưởng "Nhân" là yêu người của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huy tác dụng.
Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mối quan hệ. Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ có biết bao thảm kịch xảy ra. Một khi mỗi con người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tai nạn do khách quan đưa lại. Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa, mà còn đúng với cả xã hội ngày nay. Khi xã hội loài người đang trong quá trình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành "ngôi nhà chung", không còn có cộng đồng lớn hay nhỏ đứng ngoài "ngôi nhà chung" ấy, thì chúng ta càng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xây dựng một ngôi nhà chung mang một sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tín ngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung.
Có thể nói, phạm trù "Nhân" của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không còn phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý" của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm.