Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Triết Lý Siêu Hình

Giới thiệu : Thuật ngữ siêu hình học (metaphysics) vốn xuất phát từ cụm từ Hy Lạp "meta ta Phusika" (hàm nghĩa phía sau, hay vượt ra khỏi, giới vật chất tự nhiên). Siêu hình học là bộ môn nghiên cứu Thực Tại Tối Hậu, về những gì vượt lên trên hiện tượng vật chất.


Đối với giới triết gia, những gì mà các giác quan có thể cảm nhận được đều là "hiện tượng" (phenomenal). Trên cơ sở đó, họ phân định sự khác biệt giữa "sự hiện hữu mang tính hiện tượng" (phenomenal existence) và sự thực hữu tối hậu, hay "thực tại siêu hình" (metaphysical reality).

Thí dụ: Một lượng nước trong cốc chỉ thể hiện hình thái lỏng, ẩm ướt và không mầu; nhưng thực chất, nó bao gồm những phân tử H2O. Không có khả năng cảm nhận được 2 nguyên tử hydrogen và 1 nguyên tử oxygen trong phân tử nước, các giác quan chỉ có thể nắm bắt được sự tồn tại mang tính hiện tượng của loại vật chất ấy.

Bên cạnh đó, siêu hình học cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa thực tại và hiện tượng nỗ lực miêu tả bản chất của vũ trụ.1

- Xuất xứ: Theo quan niệm tryền thống, thuật ngữ metaphysics chỉ đơn thuần ghi nhận thứ tự sắp xếp các bộ sách trong thư viện của Aristotle. Do các bộ sách đề cập đến các lãnh vực siêu hình được xếp phía sau các bộ sách vật lý (physics), chúng được biết đến với biệt ngữ meta physics (phía sau vật lý). Giả thuyết này được Andronicus đưa ra. Tác giả này là người đã biên tập và hệ thống hoá các tác phẩm của Aristotle, đồng thời mang đến cho chúng ta thuật ngữ "metaphysics".

Trong số các tác phẩm của Aristotle, quyển "Triết học đầu tiên" (First philosophy) đề cập đến sự tồn tại của Thượng Đế, bản chất của thực tại và nguyên lý nhân quả, v.v....Vượt ra khỏi khuôn khổ vật chất và hiện tượng giới, một số tác phẩm xem xét, giới thiệu những suy tưởng và chiêm nghiệm về Thực Tại Tối Hậu - đối tượng nghiên cứu của bộ môn siêu hình học.

- Phân loại: Christian Wolff, vị học giả Đức đã từng hệ thống hoá triết lý của G. W. Leibniz, phân loại siêu hình học ra làm 4 nhánh chính:

    1. Bản thể học (Ontology): Chuyên nghiên cứu Thực Tại Tối Hậu.
    2. Vũ trụ học (Cosmology): Chuyên nghiên cứu trật tự tối hậu của vũ trụ.
    3. Tâm lý học (Psychology): Chuyên nghiên cứu bản chất và sự tồn tại của Thượng Đế trong khuôn khổ các sự kiện tự nhiên và kinh nghiệm lý lẽ.
    4. Tri thức học (Epistemology), bộ môn nghiên cứu khả năng thu thập kiến thức của con người, cũng được một số triết gia vĩ đại xem là một phân môn của siêu hình học, George Hegel đã từng đồng hoá tri thức học với luận lý học, xem sự thật là điều hợp lý và ngược lại.

John Stuart Mill đã nhận định siêu hình học như "một bộ phận của lãnh vực triết lý tinh thần, cố gắng xác định xem chức năng thần kinh nào thuộc về nguồn gốc tâm linh, chức năng nào được hình thành từ vật chất và ngoại cảnh."

Với Immanuel Kant, siêu hình học là những gì vượt khỏi kinh nghiệm tri thức của con người. Thượng Đế, linh hồn, sự bất tử,v.v...là những lãnh địa bất khả tri, con người chỉ có thể thu được kiến thức trọn vẹn về thế giới hiện tượng. Qua đó, Kant đã mở đường cho sự ra đời của Hiện Tượng Luận (Phenomenalism) và Thực Chứng Luận (Positivism).

Schopenhauer kết hợp kinh nghiệm với siêu hình học, nhấn mạnh vai trò của sự phân tích các sự kiện kinh nghiệm và thực chứng.

Là những người xem mọi cuộc thảo luận về Thực Tại Tối Hậu là nỗ lực vô nghĩa, các triết gia thực dụng rất đồng tình với nhận xét của William Jame về siêu hình học: "Giống như mọi chú mèo đều xám màu trong bóng đêm, mọi lý lẽ đều mờ mịt đi dưới quan điểm phê phán siêu hình."

Xét về mặt lịch sử, Renes Descartes được xem là cha đẻ của triết học và siêu hình học hiện đại. Vì thế, siêu hình học còn được phân ra làm hai nhánh: Tiền Descartes (Pre-Cartesian) với công trình nghiên cứu của các triết gia Hy Lạp cổ đại, và Hậu Descartes (Post-Cartesian) hay còn được gọi là siêu hình học hiện đại.

2. Siêu hình học tiền Derscarte

Theo truyền thống văn hoá Tây Âu, siêu hình học tiền Descates được xem là bắt nguồn từ các nhà vật lý cổ đại tại Ionia2 (giai đoạn 600-528 trước Công Nguyên), bao gồm bộ ba hiền triết của thành Miletus (Tiểu Á), sống trước thời Socrates: Thales3 (624-546 trước CN) và Anaximander (610-546 trước CN) và Anaximenes(585-528 trước CN).

a) Ý tưởng của các bậc hiền triết thành Miletus (the Milesian Philosophers)

Các bậc hiền triết thành Miletus quan tâm đến thực tại và vật chất của vũ trụ, chất liệu đã hình thành nên thế giới. Nói cách khác, họ cho rằng vật chất là thực tại tối hậu (chân xác về mặt bản thể). Bởi vì các bậc hiền triết ấy là những nhà tiên phong trong lãnh vực khoa học và triết học, ý tưởng và ngôn ngữ diễn đạt của họ được xem là có giá trị nguyên thuỷ.

Thales nhận định rằng nước là thực tại tối hậu, bởi lẽ đó là chất liệu có khả năng tồn tại ở ba trạng thái: rắn, lỏng và khí, Anaxienes lại có quy kết cho không khí, có lẽ ông đã xét đến tầm quan trọng, sự cần thiết và khả năng chuyển hoá linh động của nó. Thực tế, nước và không khí đều là yếu tố có tầm quan trọng sống còn đối với sự tồn tại. Quy kết nguồn gốc sự sống cho vật chất, các nhà vũ trụ học đã đưa ra Thuyết học hoạt (Hylozoism), cho rằng nước và không khí là 2 yếu tố cần thiết cho hoạt động sống. Về phần mình, Anaximander nhận định aperon, trạng thái vô biên và vĩnh hằng, là bản thể nguyên sơ của vũ trụ. Ông cũng đề cập đến bản thể apeiron ấy bằng các tên gọi khác như: Vô Cực, Vô Biên, Vô Hạn hay Thực Tại Thần Thánh.

b) Trường phái Eleatic

Trường phái Eleatic (the Eleatic School), xuất hiện vào thời kỳ 540-475 trước Công Nguyên, quan tâm đến vấn đề tính đồng nhất và sự biến dịch, thừa nhận rằng chỉ có một thực tại duy nhất, loại trừ tính thực hữu tối hậu của mọi hình thức thay đổi. Đứng đầu trường phái này là bốn vị hiền triết xứ Elea, bao gồm:

- Xenophanes (570-475 trước CN), người đề xuất Nhân Hình Luận và vai trò của nó đối với Thuyết Đa Thần, này đã đưa ý tưởng Nhất Thần vào lãnh vực triết học. Kết luận về tính nhất thể của Thượng Đế được ông suy luận ra từ sự vận hành hoà hợp trong thế giới tự nhiên muôn hình vạn trạng. Ngoài ra, ông cũng đồng hoá Thượng Đế với thế giới thực tại vĩnh hằng và vô biên (quan điểm Phiếm Thần).

- Parmenides, người lãnh đạo trường phái Eleatic, phát triển khái niệm Thực tại (Being) - sự chân xác về mặt bản thể. Ông đánh đồng thực tại với tư tưởng, cho đó là hai mặt của cùng một vấn đề. Những gì không thể tư tưởng, không thể tồn tại. Tư tưởng là điều kiện tiên quyết cho sự thực hữu. Bởi lẽ sự thực hữu là nội dung của tư tưởng, tư tưởng cũng chính là hình thái (hay nguyên lý) của Thực Tại. Thực Tại là những gì hiện hữu, có thể chất và chiếm hữu một phần không gian nào đó. Khoảng không trống rỗng là vô nghĩa, hư vô phi hữu.

Parmenides lập luận rằng, do khoảng không trống rỗng và phi hữu, mọi chuyển động đều không thực hữu bởi lẽ chuyển động chỉ có thể xảy ra trong vùng hư không phi hữu. Hơn nữa, các đối tượng đa thành phần tách biệt nhau cũng không thực hữu, bởi vì các thành phần của chúng bị phân cách bởi khoảng hư không phi hữu ấy. Vì thế, ông đi đến kết luận rằng thực tại tối hậu (Being) là một (về mặt số lượng và chủng loại), vĩnh hằng (nguyên thuỷ), bất hoại (tồn tại đời đời) nhưng hữu hạn (về mặt không gian).

- Zeno4 người được Aristole tôn xưng là "nhà phát minh ra phép lập luận biên chứng", nổi tiếng với tài biện luận sắc sảo. Ông thường đẩy những kẻ tranh biện với mình vào chỗ mâu thuẫn và bế tắc. Zeno cho những lập luận đặc sắc phản bác sự thực hữu của mọi chuyển động. Với thí dụ về một mũi tên bay, ông phân tích từng thời điểm của đường bay để chứng mình rằng thực ra mũi tên ấy không hề chuyển động. Ngày nay, chúng ta có thể tiến hành lập luận tương tự bằng cách thu hình một vật thể đang chuyển động. Đoạn phim thu được sẽ cho chúng ta thấy rằng chuyển động ấy thực ra chỉ bao gồm một chuỗi hình ảnh bất động.

- Melissus cống hiến cho trường phái Eleatic khái niệm thực tại vô biên. Ông lập luận rằng nếu không gian là hữu hạn, nó phải bị giới hạn bởi không gian trống rỗng (vùng hư không phi hữu). Bằng cách đó, ông đặt ra câu hỏi: "Nếu không gian gần càng tại một điểm nào đó, bên ngoài nó có thể là cái gì? không gian khác ư?"

Đối với luận điểm của trường phái Eleatic (vạn bất nhất thể, biến dịch phi hữu) là luận điểm của Heraclitus5 taị thành Ephesus (544-484 trước CN). Heraclitus cho rằng mọi vật đêu chuyển động và biến dịch (giống như nước sông không ngừng tuôn chảy về biển, vạn vật liên tục biến đổi trong quá trình tiến hoá). Nâng sự biến dịch lên vị trí "thống soái của toàn bộ vũ trụ" ông nhấn mạnh rằng không có gì bất biến, mọi vật liên tục đổi thay trong từng khoảnh khắc. Chuyển dịch là nền tảng của muôn vật và vạn sự. Thực tại là một tiến trình biến đổi. Vì thế, Biến dịch (Becoming) chính là Thực Tại Tối Hậu của vũ trụ.

Bản chất của lửa chính là minh hoạ sinh động nhất của Biến Dịch Lửa liên tục đổi dạng, không ngừng chuyển động, chẳng bao giờ cố định. Do đó, Heraclitus cho rằng lửa là yếu tính của vạn vật. Mặt khác, để có thể vận hành nhịp nhàng và có trật tự, thế giới tự nhiên phải tuân thủ một hệ thống quy luật có tính hệ thống quy luật có tính đồng nhất. Vì thế, quy luật tự nhiên (The Logos - Lý lẽ của vũ trụ) chính là Thực Tại thường hằng duy nhất.

c) Đa nguyên luận (Pluralism)

Cuối cùng, vấn đề bất đồng quan điểm giữa trường phái Eleatic và Heraclitus được giải quyết thông qua quan điểm tổng hợp của các triết gia Đa Nguyên Luận, những người nhận định rằng Thực Tại vừa đồng nhất, vừa biến dịch. Cống hiến những tư tưởng triết học cho nhân loại trong khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên (470-370 trước CN) Đa Nguyên luận được hình thành nhờ công lao của các triết gia vĩ đại như:

- Empedocles xứ Agrigentum (thuộc đảo Sicily) nhận định rằng vạn vật được tạo ra từ 4 yếu tố cơ bản: Đất, Khí, Lửa và Nước. Tuy là các yếu tố nguyên thuỷ, bất hoại, thuần nhất và bất biến, chúng đều có thể phân thành những phần tử nhỏ hơn và có khả năng biến dịch. Mặc dù mọi vật đều biến đổi, tự bản thân chúng không có động lực. Theo Empedocles, mọi biến động đều xuất phát từ nguyên lý ngoại tại, từ yêu và ghét. Không chỉ là chức năng, quan hệ hay cảm giác đơn thuần, yêu và ghét còn là động lực, là quyền năng.

- Anaxagoras xứ Clazomene mặc nhiên thừa nhận một vũ trụ bao gồm vô số nguyên tố (elements). Ông cho rằng mỗi sự vật trong tự nhiên đều bao hàm nhiều nguyên tố vũ trụ, chúng chỉ khác biệt với nhau về mặt hình thái, màu sắc hay mùi vị. Những sự vật ấy tác động đến các giác quan của chúng ta, bộc lộ những thuộc tính vượt trội đặc biệt của chúng (thí dụ như thuộc tính trắng của thạch cao, thuộc tính ngọt của mật, v.v...) Cho rằng các nguyên tố ấy là vĩnh hằng, bất hoại và bất biến, ông đã định hình nên học thuyết về tính bất diệt của vật chất (the Doctrine of the Indestructibility of Matter).

Ngoài ra, Anaxagoras tin rằng có một nguyên lý tinh thần (được ông gọi là Nous) ban cho các nguyên tố vũ trụ một khả năng chuyển dịch. Ông cũng quy kết các thuộc tính như Trật Tự, Cái Đẹp, Chủ Đích, Quy luật và Sự Hoà Hợp của vũ trụ cho nguyên lý tinh thần ấy. Giống như Lý Lẽ, Tinh Thần hay Tư Tưởng, Nous đã được Anxagoras đồng hoá với Thân Thánh. Chính quan điểm triết lý này đã mở đường cho Chủ Đích Luận ra đời.

- Leucippus của thành Abdera6 là người đầu tiên đưa ra khái niệm "nguyên tử" (atoms - hàm nghĩa "vật bất khả phân"). Theo ông, đó là những nguyên tố vĩnh hằng, nguyên thuỷ, bất biến, bất hoại, đồng nhất, bấ khả phân và hữu hạn. Tràn ngập khắp không gian, các nguyên tử có số lượng rất lớn, chúng chỉ sai khác nhau về kích cỡ, hình thái và vị trí. Leucippus cho rằng mọi biến động trong vũ trụ đều xuất phát từ sự chuyển dịch vị trí của các nguyên tử trong không gian. Vì thế, chuyển động là kết quả của sự tái lập mối quan hệ giữa không gian và các nguyên tử, những thực thể siêu hình duy nhất trong vũ trụ.

- Democritus7 của thành Abdera là triết gia nổi tiếng nhất của trường phái Đa Nguyên Luận. Là người phát triển thuyết nguyên tử, cha đẻ của chủ nghĩa Duy Vật (Materialism) ông góp phần hình thành nên nguyên lý bảo toàn năng lượng (the Conservation of Energy) của vật lý học hiện đại. Ông nhận định rằng không có gì được hình thành hoặc tiêu biến đi một cách tuyệt đối, bởi lẽ mọi vật được cấu thành từ các nguyên tử bất hoại, các nguyên tử này chỉ thay đổi và tái lập trật tự, cách sắp của chúng mà thôi.

Democritus cũng cho rằng các nguyên tử có tính vĩnh hằng, nguyên thuỷ và liên tục biến dịch; do đó, biến dịch cũng có tính vĩnh hằng. Theo quan điểm của ông, thế giới không chỉ là tập hợp của những thuyết nguyên tử hỗn độn, nó được thống trị bởi các quy luật mang tính cơ chế.

d) Các triết gia cùng thời khác

- Phythagoras của đảo Samos đã phát triển một quan điểm triết học dựa trên cơ sở khái niệm số học, nhận được sự đồng tình của nhiều triết gia khác, đặc biệt là Philolaus của Thebes (sống cùng thời với Socrates). Ông đã kết hợp ý tưởng về số học với các thuộc tính của thực tại tối hậu và siêu hình như: thường hằng, bất dịch, bất hoại, phổ quát, v.v..., những thuộc tính này không bị ảnh hưởng bởi thời gian hay sự biến đổi. Theo quan điểm của Pythagoras, bản chất của thế giới có thể được tìm thấy trong các quy luật toán học, các quy luật mang đến cấu trúc và hình dạng cho các vật thể hữu hình. Ông cho rằng vật chất phải bao hàm những dạng thức toán học, rằng thế giới phải được xem như một tập thể tập hợp các con số. Vì thế, các giá trị tối thượng trong vũ trụ phải bất biến và thường hằng, bởi lẽ mọi thực thể tồn tại trong vũ trụ đều được thống trị bởi các định lý toán học.

- Protagoras của Thành Abdera, triết gia ngụy biện nổi tiếng vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước CN, đưa ra lý thuyết lĩnh hội tri thức học (Perception Theory of Epistemology), gói gọn đời sống tinh thần của cá nhân trong khuôn khổ nhận thức. Quan điểm duy cảm (sensualism) thể hiện qua câu châm ngôn của ông: "Con người là thước đo của mọi sự." Đối với Protagoras, kiến thức, thực tại và chân lý chỉ có giá trị khách quan, bởi chúng chỉ là tư kiến chủ quan của con người, không hề có sự kiện khách quan, chẳng hề có chân lý tuyệt đối cho tất cả mọi người. Điều gì có vẻ đúng với tôi chỉ đúng với tôi, điều gì có vẻ đúng với anh chỉ đúng với anh. Bởi vị tính khách quan không thể thành lập được, con người cần phải bằng lòng với tư kiến và chân lý chủ quan.

- Gorgis (mất năm 380 trướcCN) phát triển ý tưởng của Protagoras thành Chủ nghĩa Hư Vô, cho rằng không có thực tại tối hậu hay siêu hình nào cả. Theo Gorgias, ngoài nhận thức của con người, không hề có một thực thể chân xác nào khác.

e) Quan điểm của Plato

Phần nào dựa trên ý tưởng của Democritus, Plato đã phát triển nên một ngành siêu hình học mới, căn cứ vào hai nhánh tri thức học khác nhau, mỗi nhánh bao hàm một học thuyết siêu hình riêng. Theo Plato, nhận thức của con người chỉ có thể nắm bắt được thực tại tương đối và phiến diện (hiện tượng thoáng qua). Trong khi đó, lý trí của con người có khả năng khai phá các quy luật tự nhiên hay thực tại tuyệt đối, thường hằng, đồng nhất và phổ quát. Những dữ kiện về hiện tượng giới là đối tượng tri giác của con người (qua giác quan); những nguyên lý về thực tại tuyệt đối phải được suy tưởng và chiêm nghiệm. Các đối tượng cảm quan tồn tại trong thế giới suy tưởng siêu hình.

Thế giới thực tại siêu hình là lãnh vực tri thức trọng tâm trong Thuyết Ý Niệm của Plato (Plato's Doctrine of Ideas). Học thuyết ấy bao gồm các nguyên lý và bản thể của thực tại tối hậu, của chân lý tuyệt đối, của đạo lý trong vũ trụ. Đó là những ý tưởng siêu hình, bởi lẽ thực tại tối hậu vốn vượt lên trên thế giới vật chất và hiện tượng, chỉ hiển hiện trong thế giới tâm tưởng và nhận thức. Giống như các nguyên lý toán học nhưng lại không có nội dung cụ thể, thực tại tối hậu không có tướng trạng; vì thế con người chỉ có thể chiêm nghiệm về nó để lý hội. Với quan điểm ấy, Thuyết Ý Niệm của Plato ngụ ý rằng thế giới thực tại được cấu thành từ tinh thần, từ các yêu sách của yếu tố phi vật chất và vô hình tướng. Đó là học thuyết cốt lõi của Chủ nghĩa Duy Tâm theo trường phái Plato (Platonic Idealism).

f) Quan điểm của Aristotle

Aristotle đã cố gắng giải quyết vấn đề đồng nhất và biến dịch, vấn đề trọng tâm nẩy sinh từ ý tưởng của Plato về hai thế giới tương hỗ (hiện tượng giới và siêu hình giới). Ông đi đến kết luận về một tiến trình nhận thức, nối kết vô số biến trạng của hiện tượng giới với thực tại thống nhất và vĩnh hằng của thế giới ý niệm siêu hình.

Plato (trái)- Aristo (phải)

Đối với Aristotle, thực tại siêu hình là một yếu tính (essense) vốn không tách rời khỏi các hiện tượng, là "mục đích nội tại" (entelechy) của một đối tượng cảm quan khiến nó có khả năng tự nhận thức. Khởi sự tồn tại, mọi hiện tượng chỉ là giả tạm, không thực hữu; chúng đòi hỏi phải được hiện thực hoá. Hiện thực là một tiến trình, một quá trình tự nhận thức. Sự thực hữu của một vật, bản chất của nó, các nguyên lý thống trị nó đều không tách rời khỏi nhận thức về hiện tượng tổng thể. Tính phổ quát vốn tiềm ẩn trong từng chi tiết. Vì thế, thực tại chính là bản chất của một vật thể, nó cần được hiện thực hoá và nhận thức trọn vẹn.

Aristotle cho rằng các ý niệm siêu hình của Plato tồn tại như "hình thể" (form), trong khi các hiện tượng tồn tại ở dạng vật chất (matter). Nhưng khác với Plato, Aristotle chẳng bao giờ cho phép hai dạng này tách biệt nhau. Hình thể và vật chất luôn hợp nhất, tạo thành "hình thể vật chất" (formed matter). Không có hình thể, vật chất nằm ngoài phạm vi nhận thức. Kết hợp lại với nhau, hiện tượng giới và siêu hình giới cầu thành thế giới thực tại. Trong sự kết hợp ấy, mục đích nội tại (entelechy) chuyển hoá vật chất từ hiện tượng thành hiện thực. Mục đích nội tại là tiến trình tự nhận thức của vật chất, chuyển từ dạng tiềm năng đơn thuần thành thực tại chân xác.

Theo Aristotle, tiến trình nhận thức và hiện thực hoá được tiến hành với 4 động cơ như sau:

    1. Vật chất (Material cause): Phần vật chất cần thiết để tham gia tiến trình
    2. Hình thể (Formal cause): Lý thuyết, đề án hay nguyên lý mà vật chất phải tuân thủ
    3. Năng lượng( Efficient cause): Nỗ lực hay năng lượng dành để thực hiện tiến trình.
    4. Chung cuộc (Final cause): Mục đích tối hậu của tiến trình.

Thí dụ: Khi xây dựng một ngôi nhà, chúng ta cần phải có vật liệu (vật chất), bản đồ hoạ thiết kế của kiến trúc sư (hình thể), sức lực của công nhân (năng lượng) và mục đích xây dựng ngôi nhà ấy (chung cuộc).

Aristotle cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều được tạo thành từ hình thể và vật thể chất, từ đó hiện thực hoá vật chất. Cấu trúc của thế giới phụ thuộc vào vị trí tương đối mà mỗi đối tượng chiếm giữ trong vũ trụ:

- Thượng Đế, Thực Tại siêu hình và siêu việt, ngự trên tầng cao nhất.

- Các đối tượng có hình thể siêu việt khác (tinh thần hay linh hồn) ngự ở tầng thấp hơn.
Đá, khoáng chất và các vật thể vô tri giác chiếm giữ tầng đáy.

- Chiếm giữ các tầng trung gian bên trên tầng đáy lần lượt là: đời sống thực vật, đời sống động vật và đời sống con người.

Mặc dù thể hiện quan điểm tiến hoá, hệ thống phân loại hình thể- vật chất của Aristotle bao gồm những đối tượng được sáng tạo trong cùng một thời điểm. (Khác với quan điểm tiến hoá theo quá trình thích nghi và hoàn thiện dần tổ chức cơ thể do Charles Dawin đề ra vào thế kỷ 19.)

Cuối cùng, Aristotle tin tưởng rằng động lực chủ yếu của vạn vật là Thượng Đế, thực tại có hình thể thuần nhất (pure form), hoàn toàn siêu thoát khỏi ràng buộc vật chất (vật chất vốn không hoàn hảo, cần đến tiến trình tự nhận thức và hiện thực hoá). Là động lực tiên nguyên, bản thân Thượng Đế là bất biến. Ngài là thực tại viên mãn và là nguồn gốc khởi động của vạn vật. Do đó hình thể thuần nhất, Thượng Đế cũng là độnng cơ chung cuộc (final cause), thúc đẩy mọi vật tự nhận thức và hiện thực hoá bản thân.

Đối với Aristotle, Thượng Đế là siêu hình, phi vật chất, vĩnh hằng và thuần nhất; Ngài là thực thể tuyệt đối độc lập và hoàn hảo. Chỉ có Thượng Đế mới là thực tại viên mãn, không cần đến quá trình tự nhận thức. Do vậy, Ngài là thực tối thượng, là thực thể thuần nhất (actus purus) và tư tưởng thuần nhất.
3. Siêu hình học hiện đại- hậu Descartes

Siêu hình học hiện đại bắt nguồn từ các công trình của René Descartes, triết gia Pháp thuộc trường phái Duy Lý của châu Âu lục địa. Phần thảo luận dưới đây sẽ tóm lược quan điểm siêu hình của chín triết gia thời hiện đại, bao gồm:

- Ba triết gia Duy Lý của châu Âu lục địa (Continental Rarionalism): Descartes, Spinoza và Leibniz.

- Ba triết gia Kinh Nghiệm của Anh quốc (British Empiricism): Locke, Berkeley và Hume.

- Ba triết gia Duy Tâm của Đức (German Idealism): Kant, Hegel và Schopenhauer.

Chúng ta sẽ đề cập đến quan điểm siêu hình của các triết gia đương đại ở phần VI "Các hệ thống triết học hiện đại". Thực tế, siêu hình học hiện đại tập trung vào hai lãnh vực chủ yếu: tìm kiếm bản chất tối hậu (chân xác về mặt bản thể), cách thâu đạt kiến thức về thực tại tối hậu ấy (tri thức học hay phương pháp luận).

a) Nhị nguyên siêu hình luận của René Descartes

Là triết gia Nhị Nguyên Siêu Hình luận (Metaphysical Dualism) có ảnh hưởng sâu sắc nhất của mọi thời đại, Descartes nhận định rằng thực tại bao gồm hai yếu tố cấu thành: tinh thần và vật chất. Hai bản thể này bao trùm thực tại tổng thể: phi tinh thần là vật chất và ngược lại. Khả năng duy nhất còn lại là sự kết hợp của hai bản thể này.

Descartes cho rằng yếu tính của vật chất là chiếm hữu không gian, trong khi bản chất tâm linh và siêu hình là thuộc tính riêng biệt của tinh thần. Xét theo phương diện thực tại tối hậu, tinh thần là yếu tố có tính quyết định.

Theo Descartes, sự thực hữu của linh hồn có thể được chứng minh một cách tuyệt đối chắc chắn, dựa trên cơ sở lập luận cho rằng nó tồn tại vượt lên trên mọi hoài nghi. Tính xác thực của linh hồn (đối với Descartes, linh hồn cũng đồng nghĩa với tinh thần) gắn liền với sự kiện là, trong khi nỗ lực phản bác sự tồn tại của linh hồn, người ta tìm thấy chứng cớ biện minh cho sự hiện hữu của nó. Mẩu đối thoại dưới đây minh hoạ cho lập luận ấy:

    "Tôi hoài nghi về sự tồn tại của mình "
    "Nhưng nếu tôi không tồn tại, ai đang nuôi dưỡng và thể hiện mối hoài nghi ấy?"
    "Chí ít, chủ thể đang hoài nghi phải tồn tại."
    "Bởi lẽ tôi đang nuôi dưỡng và thể hiện mối hoài nghi ấy, vì thế tôi - chủ thể hoài nghi, phải tồn tại. Tôi không thể hoài nghi sự tồn tại của chính mình."

Nhận định cuối cùng của trường phái Descartes về lập luận nói trên là: "Tôi hoài nghi, vì thế tôi tồn tại" (Cogito, Ergo sum.)

Chính phương pháp ấy, cách lý luận không phụ thuộc vào bất kỳ sự kiện hay kinh nghiệm nào, đã dẫn Descartes đến kết luận rằng tri thức tiềm ẩn trong mỗi cá nhân ngay từ khi mới sinh ra, rằng tri thức là các ý tưởng hay nhận thức nội tại. Ông còn tiến xa hơn khi nhận định rằng, không chỉ có tri thức về các quy tắc toán học hay luận lý, các ý tưởng về Thượng Đế và linh hồn cũng là bẩm sinh. Theo lập luận của ông, bởi lẽ tư tưởng vận hành không cần đến sự hỗ trợ của kinh nghiệm hay sự kiện thực tế, chủ thể tinh thần (hay linh hồn) của hoạt động tư duy ấy phải có tính nội tại. Tương tự, ý tưởng về Thượng Đế cũng là thiên bẩm, bởi lẽ nó không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Các chức năng lập luận tư duy cũng thế.

Thí dụ: Quy tắc mâu thuẫn là tri thức nội tại. Không ai chấp nhận một tiền đề mâu thuẫn cả. Không ai thừa nhận một sự vật đồng thời và toàn trắng lại toàn đen, hoặc vừa chết lại vừa sống, hay vừa hiện diện vừa vắng mặt. Lý trí của con người mặc nhiên ấn định rằng chỉ có thể chấp nhận một trong hai khả năng của các tiền đề mâu thuẫn ấy. Vì thế, quy tắc mâu thuẫn là tri thức nội tại, không cần đến sự hỗi trợ của kinh nghiệm thực tế.

Descartes nhận định rằng chân lý xuất phát từ lý lẽ, bao gồm ý tưởng rõ ràng và tư duy luận lý, thể hiện sự liên kết mạch lạc cần thiết giữa các khái niệm.

Thí dụ: Các mối quan hệ toán học như 2+2=4. Mối quan hệ gắn kết trong hình thức tam đoạn luận ( syllotistic như:"nếu mọi cư dân của thành phố Boston đều là công dân Hoa Kỳ, và nếu John Doe là một cư dân của Boston, tất yếu John Doe phải là một công dân Hoa Kỳ.")

Descartes đã vận dụng phương pháp luận này để chứng minh sự tồn tại của Thượng Đế, của linh hồn và của tri thức nội tại.

b) Tâm Vật Nhất Nguyên Luận của Benedict Spinoza

Triết gia Phiếm Thần Benedict Spinoza (1632-1677) đồng hoá Thượng Đế với Bản Chất Tối Hậu của vũ trụ. Ông cho rằng Thượng Đế và Bản Chất là một, rằng hai thuật ngữ ấy có thể sử dụng thay đổi qua lại cho nhau. Quan điểm này được biết đến với cái tên (Nhất Nguyên Siêu Hình luận " (Metaphysial Monism). Thượng Đế là vô hạn, Ngài sở hữu vô số thuộc tính có khả năng biến thiên vô cùng tận.

Trong số các thuộc tính ấy, con người chỉ biết đến hai yếu tố: tinh thần và vật chất. Bởi vì chúng đều là thuộc tính của một bản chất, bất kỳ biến động nào có liên quan đến Bản Chất đều ảnh hưởng đến cả hai yếu tố ấy. "Trật tự và sự nối kết của các ý tưởng cũng chẳng khác gì trật tự và sự nối kết của vật chất." Khi tinh thần bị tác động, vật chất cũng chị ảnh hưởng tương ứng, và ngược lại. Tin tưởng rằng tinh thần và vật chất là hai khía cạnh khác của cùng một Bản Chất, Spinoza đã đề ra một học thuyết được gọi là "Thuyết Tâm Vật Song Lập" (Psychophysical Paralleism).

Ngôn chí của trường phái Spinoza là "dưới khía cạnh vĩnh hằng" (sub specie aiterni), xuất phát quan điểm phiếm thần của ông, từ niềm tin rằng mọi thực tại đều là Thượng Đế và Thượng Đế là Thực Tại tổng thể. Theo quan niệm ấy, thế giới thực tại phải là một hệ thống gắn kết chặt chẽ, mỗi bộ phận đều có một vị trí đặc biệt thích hợp trong tổng thể. Trong một hệ thống như vậy, sự tồn tại của Thượng Đế triệt tiêu sự hiện hữu của cái Ác; cái Ác bị gói gọn trong khuôn khổ Vô Minh.

Thực tế, Spinoza cho rằng Vô Minh phản ánh sự bất lực về mặt nhận thức sự vật theo đúng vị trí của nó, vị trí "dưới khía cạnh vĩnh hằng". Hơn nữa, giá trị tương đối với Thực Tại vĩnh hằng. Mỗi đối tượng trong vũ trụ đều có vị trí thích hợp của nó, đều có mối quan hệ nhất định đối với Thượng Đế; "Lẽ phải tối thượng của tinh thần là trị thức về Thượng Đế; đức hạnh tối thượng cuả tinh thần là sự hiểu biết về Ngài.” Mọi vật đêu thực hữu trong lòng Thượng Đế, mọi vật đều có mối quan hệ xác đáng với Thượng Đế.

Với những tư tưởng như thế, Spinoza đã được triết gia Novalis tôn xưng là "Triết gia si mê Thượng Đế."

c) Thuyết Phiếm Hồn của Gottfried Wilhelm Leibniz

Gottfied W. Leibniz ( 1644-1716) được biết đến như là một triết gia Đa Nguyên Siêu Hình luận (metaogphysial Pluralist), bởi lẽ ông nhận định rằng bản chất tối hậu của thế giới bao gồm vô số thực thể giống như nguyên tử. Ông gọi các thực thể ấy là những Đơn Tử (monads). Mỗi đơn tử đều năng động, khác biệt nhau về mặt bản chất, độc lập với nhau và không hề có mối tương tác thực sự với nhau. Mỗi Đơn Tử vận hành theo bản chất riêng nhưng có khả năng "phản chiếu các Đơn Tử khác" Vì thế, khi một Đơn Tử vận hành, nó không tạo ra một mối tương tác thực sự mà chỉ là một mối tương tác ngoại quan (hiện tượng).

Leibniz quy kết mối tương tác ngoại quan ấy là đặc tính của Sự Hoà Hợp Tiên Định (Preestablished Harmony), cơ chế hay bản chất mà Thượng Đế phú cho mỗi Đơn Tử.
Thí dụ: Hai nguyên tử hydrogen tương tác với một nguyên tử oxygen, tạo thành một phân tử nước. Theo thuyết Hoà Hợp Tiền Định của Leibniz, đó không phải là mối tương tác thực sự. Các nguyên tử hydrrogen không hề nhận thức được sự hiện hữu và tác động của các nguyên tử oxygen, và ngược lại. Chỉ vì vận hành theo bản chất thiên định, hai dạng nguyên tố này nối kết với nhau theo một tỷ lệ nhất định và tạo ra các phân tử H2O. Đó là kết quả của sự Hoà Hợp Tiên Định, thể hiện dưới hình thức tương tác mang tính hiện tượng ngoại quan.

Cũng bằng cách lập luận ấy, Leibniz giải quyết vấn đề về mối quan hệ tinh thần và thể xác trên nền tảng của Thuyết Hoà Hợp Tiên Định. Những Đơn Tử tinh thần và Đơn Tử thể xác vận hành theo bản chất thiên phú của chúng, tạo nên một mối quan hệ thống nhất mang tính hình thái tương tác ngoại quan.

Cho rằng mọi thực thể đều bao gồm các Đơn Tử, Leibniz cũng quy kết cho các Đơn Tử một đời sống tinh thần, bao gồm cung cách ứng xử có phần kém hiệu quả hơn so với hình thức các mức năng lượng trong nguyên tử mà giới vật lý gia hiện đại đề ra. Đối với Leibniz, vật chất không thụ động và sinh khí. Theo quan điểm này, mọi thực tại (chân xác về mặt bản thể) đều bao gồm những sinh thể. Chính vì thế, Leibniz xứng đáng được xem là triết gia thuộc Thuyết Phiếm Hồn (Panysychism), học thuyết cho rằng mọi vật thể đều có một tinh thần hay linh hồn cố hữu.

Leibniz định hình chân lý như là thể đối lập bao gồm chân lý của lý trí và chân lý sự kiện. (Ngoài ra, còn có một dạng chân lý đặc biệt có liên quan đến vương quốc đạo đức của Thượng Đế.)

Cần được chiêm nghiệm, suy tưởng để lý hội, chân lý của lý trí (Truths of reasons) là vĩnh hằng, tuyệt đối, mang tính quy luật và có nguồn gốc nội tại. Thí dụ: Các nguyên tắc toán học luận lý học, v.v... Cần được tri giác rõ ràng, chân lý sự kiện (Truths of fact) xuất phát từ kinh nghiệm và các dữ kiện thực tế.

Theo Leibniz, chân lý sự kiện được biện minh bởi "Nguyên tắc này cho rằng một sự kiện riêng biệt xảy ra, thay vì là một sự kiện nào khác, tất phải co lý do chính đáng nào đó. Phải có lý do chính đáng để ma sát tạo ra được nhiệt, để lửa bốc cháy, để con người thu khí oxygen. Phải có lý do thích hợp và xác đáng để toàn bộ thế giới này và muôn vật bên trong nó hiện lữu. Vũ trụ này sẽ hỗn độn biết bao nếu mọi vật tồn tại một cách phi lý!"

Là triết gia có quan điểm lạc quan, Leibniz thừa nhận thế giới này là môi trường lý tưởng nhất trong phạm vi có thể, dựa trên cơ sở về Thượng Đế nhân từ vô cùng. Là Đấng toàn năng và thông suốt mọi lẽ, Thượng Đế đã chọn lựa và sáng tạo ra một thế giới lý tưởng nhất dành cho những tạo vật của Ngài.

Thừa nhận sự tồn tại của cái Ác trên thế giới này, Leibniz cho rằng đó là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển của các giá trị luân lý, trí tuệ và tự do. Nếu cái Ác không tồn tại, hẳn là không thể có quyền lựa chon và tự quyết. Nếu thế giới này không có hoài nghi, phiền não và các vấn đề đáng quan tâm khác, hẳn trí tuệ nhân loại không có cơ hội hoàn thiện và khắc phục những nhược điểm của mình. Leibniz vạch ra rằng bất kỳ thế giới nào bao hàm những giá trị tinh thần và đạo đức cũng bao hàm cả những thế lực tội ác tương ứng, rằng sự đấu tranh giữa cái Thiện và cái Ác là điều tất yếu.

Theo Leibniz, bên ngoài Thượng Đế trần gian này còn có Vương quốc của Thượng Đế. Đó là thế giới hoàn hảo nhất, vương quốc giành cho những linh hồn đức độ. Trong khi linh hồn của các động vật khác chỉ là ảo ảnh trong guồng máy vũ trụ, chỉ có linh hồn con người mới phản ánh những phẩm chất tinh thần của Thượng Đế. Chỉ có con người mới có mối liên kết tinh thần với Thượng Đế, có cơ hội bước vào vương quốc của Ngài. "Tập hợp của toàn bộ linh hồn đức độ tạo nên thành phố của Thượng Đế, vương quốc khả dĩ hoàn hảo nhất dưới sự trì vì của bậc minh đế hoàn hảo nhất"9 Bàn về ảnh hưởng của Thượng Đế đối với thế giới vật chất và tinh thần, Leibniz nhận định :"Thượng Đế là Kiến Trúc Sư của guồng máy vũ trụ, là Hoàng Đế của Thiên Đường dành cho Những Linh Hồn Thánh Thiện."10

d) Chủ nghĩa kinh nghiệm của John Locke

Ngoài Francis Bacon11 và Thomas Hobbes, John Locke (1632-1704)12 là triết gia đóng góp phần cống hiến quan trọng hơn cả trong quá trình phát triển phong trào thực nghiệm tại Anh Quốc. Ông để lại một số tác phẩm có hưởng sâu rộng, trong đó có tuyệt phẩm "Một luận điểm về tri thức của con người" (An essayconcerning Human Understanding - 1690), thể hiện quan điểm siêu hình của ông về các vấn đề liên quan đến chân lý và tri thức.

Chủ nghĩa Kinh Nghiệm (Empircism) là hệ thống triết học thừa nhận rằng kinh nghiệm là nguồn gốc của mọi tri thức. Xét trên phương diện nguồn gốc từ (Etymology), thuật ngữ Empiricism xuất phát từ “enpeira” (tiếng Hy Lạp), có nghĩa là thực nghiệm. Đối lập với các nhà Duy Lý của châu Âu lục địa, các triết gia Kinh Nghiệm của Anh Quốc nhận định rằng mọi tri thức hay chân lý đều xuất phát từ kinh nghiệm.

Phủ nhận khái niệm Ý Niệm Nội Tại của trường phái Descartes, Locke nhấn mạnh rằng tri thức chỉ xuất phát từ kinh nghiệm. "Chẳng có sự hiểu biết nào lại không được khởi đầu hình thành thông qua cánh cửa giác quan." Khi mới được sinh ra, tâm trí của con người là "mảnh giấy trắng tinh", hay theo cách nói của các triết gia, là một "bản văn trống" (tabua rasa).

Bước vào cuộc sống, tâm trí của con người không ngừng tiếp nhận các loại cảm giác khác nhau, giống như một cuộn phim nhạy sáng thu lấy ngoại cảnh thông qua thị kính của máy quay. Các cảm giác ấy để lại những ấn tượng khó phai mờ trong tâm trí con người. Không có cảm giác, nó sắp xếp và kết hợp chúng lại với nhau, hình thành các mối liên hệ để phản ảnh chúng. Locke nhận định đó là tiến trình suy lý. Vì thế, ý tưởng là sản phẩm được tạo ra từ nguyên liệu cảm giác. Nhân cách là thể phức hợp của các ý tưởng, bản sắc cá nhân là kết quả của quá trình tích luỹ các ý tưởng vào kho ký ức.

Locke cũng phân biệt rõ ràng giữa đặc tính sơ cấp và đặc tính thứ cấp của các đối tượng kinh nghiệm. Ý tưởng ở trong tâm trí nhưng những đặc tính lại được tìm thấy nơi bản thân đối tượng vật chất. Các đặc tính sơ cấp của một đối tượng vật chất là những phẩm chất mang tính cảm quan và tâm lý (đối với kinh nghiệm của con người) chẳng hạn như màu sắc, âm sắc hay mùi vị, v.v...

Tuy nhiên, Locke cũng cho rằng cả hai đặc tính ấy đều không phải là bản chất thực sự của vật thể, chúng chỉ là những cơ sở nào đã tạo ra những đặc tính sơ cấp cũng như thứ cấp ấy? Liệu rằng có sự tồn tại của một bản chất siêu hình (thực tại tối hậu), hay phải chăng các đặc tính ấy hiện hữu một cách độc lập? Thí dụ, phải chăng một quả bóng nhựa đỏ chỉ đơn thuần là những đặc tính mà nó đang có, hoặc giả nó còn có một bản chất tiềm ẩn nào đó? Phải chăng quả bóng ấy chỉ đơn thuần là tính đàn hồi, sắc đỏ, độ căng tròn và độ mềm dẻo đặc trưng của nó? Hoặc giả, nó còn có thêm điều gì khác nữa - một bản chất siêu hình, một thực thể làm cơ sở nền tảng cho những đặc tính ấy?

Locke viện dẫn Thuyết Bất Khả Tri. Khẳng định thực tại tối hậu là "điều tôi không biết" (Je-ne-sais-quoi), ông lập luận:

"... Chúng tôi có thói quen cho rằng phải có một cơ sở nền tảng cho sự tồn tại, từ đó hình thành nên các kết quả thể hiện ra bên ngoài. Chúng ta quen gọi đó là bản chất... Nếu để tâm xem xét lại ý tưởng về cái gọi là bản chất ấy, người ta sẽ phát hiện ra thực tế mình chắng có ý kiến nào khác ngoài giả định rằng anh ta không biết gì về cơ sở nền tảng của những đặc tính giúp chúng ta định hình nên các ý tưởng, những đặc tính mà chúng ta thường gọi là 'sự kiện mang tính hiện tượng'."

"Nếu được hỏi: "Cái gì đang nâng đỡ khối vật chất cứng rắn và to lớn dưới chân chúng ta?" một số người Ấn Độ sẽ trả lời rằng thế giới được đặt trên lưng của một con voi vĩ đại. Nếu được hỏi tiếp rằng con voi ấy tựa trên cái gì, họ sẽ trả lời: 'Trên lưng một con rùa vĩ đại" Nhưng nếu chúng ta tiếp tục truy vấn rằng con rùa ấy tựa vào đâu, họ sẽ trả lời thế nào? - Tựa vào một cái gì đó, cái mà họ không biết."

"Tương tự, trong những trường hợp không có ý tưởng minh bạch rõ ràng, chúng ta thường phát biểu như trẻ con. Với những câu hỏi nằm ngoài tầm hiểu biết của mình, trẻ con sẵn sàng đưa ra cầu trả lời hết sức vô tư về “một cái gì đó”. Thực chất, nhưng lời phát biểu như thế, dù xuất pháp từ người lớn hay trẻ con, không mang đến ý nghĩa gì ngoài một điều rằng mình đã biết và đang nói chỉ là các ý tưởng mơ hồ, không rõ ràng, thậm chí là hoàn toàn mờ mịt. Ý tưởng của chúng ta về cái gọi là bản chất cũng thế, không là gì ngoài các cơ sở giả định vô căn cứ của những đặc tính vốn đang hiện hữu và được xem là không thể tồn tại một cách độc lập ..."

Quan điểm nói trên của Locke, hoài nghi và phủ nhận sự hiểu biết về bản chất của thực tại tối hậu, được biết đến với tên gọi "Thuyết Bất Khả Tri Siêu Hình" (Metaphysical Agnosticism).

e) Chủ nghĩa Duy Tâm của George Berkeley

Berkeley (168-1753) là triết gia vĩ đại thuộc trường phái Kinh Nghiệm tại Anh. Ông đã phát triển tiền đề của John Locke đến kết luận tối hậu rằng nếu mọi tri thức đều xuất phát từ kinh nghiệm, bất kỳ sự vật nào không thể chứng nghiệm được đều không thực hữu. "Tồn tại là chứng nghiệm được" (Esse est percipi)13 . Những gì nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm đều không thực hữu.

Theo quan điểm của Berkeley, bản chất của kinh nghiệm (các cảm giác mang tính tâm lý) là tinh thần, thuộc về lãnh vực tâm linh. Vì thế, mọi thực tại phải bao hàm cùng một bản chất tinh thần (hay tâm linh). Ông lập luận rằng kết quả phân tích cảm giác có thể chứng minh được mọi kinh nghiệm đều có bản chất tinh thần, thí dụ như trường hợp phân tích kinh nghiệm dưới đây.

Tôi thấy một quyển sách ở trên bàn phía trước mặt tôi. Rõ ràng, đôi mắt tôi không rời khỏi thân xác để tìm đến quyển sách và mang nó vào tâm trí tôi. Thay vì vậy, tôi chỉ nắm bắt (chứng nghiệm) hình ảnh của quyển sách ấy- một hình ảnh mang tính tâm lý (hay tinh thần) mà thôi. Vì thế, quyển sách duy nhất mà tôi thực sự chứng nghiệm được chỉ là một hình ảnh thị giác. Tương tự, nếu tôi chạm vào quyển sách ấy (tiếp xúc với nó về mặt vật chất), các cơ quan xúc giác của tôi cũng không rời khỏi thân xác, không nhập vào quyển sách để xác lập cảm giác tiếp xúc. Chúng vẫn ở lại thân xác trong quá trình hình thành một cảm giác thần kinh. Vì thế, quyển sách duy nhất mà tôi chứng nghiệm được qua xúc giác chỉ là ấn tượng tinh thần. Quyển sách ấy mang đến cho tôi những ấn tượng mà bản chất của chúng có liên quan mật thiết với bản chất của tinh thần (không phải của bộ não).

Không chỉ nhận định rằng toàn bộ thế giới thực tại bao hàm một bản chất tâm linh, Berkeley còn cố gắng chứng minh rằng mọi sự vật phi tinh thần đều không thực hữu. Đối với ông, vật chất là giả lập- tệ hơn nữa, vật chất phi tinh thần là hư dối về mặt nhận thức. Berkeley cho rằng bất kỳ đối tượng nào cũng phải trở thành tư tưởng trong tâm trí; vật chất không thể nào thâm nhập vào tâm trí của con người, chỉ có thực thể tinh thần và ấn tượng tâm lý mới có khả năng đó. Tóm lại, nếu sự vật thực sự tồn tại, chí ít nó phải có một bản chất tinh thần (hay tâm linh).

Thực tế, luận thuyết cho rằng chỉ có chủ thể tư tưởng là thực hữu (toàn bộ thế giới chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của chủ thể ấy) được biết đến với tên gọi "Thuyết Duy Ngã" (Solipsism). Nó thể hiện niềm tin tuyệt đối voà chủ thể tính, cho rằng bản ngã chỉ biết đến trạng thái tồn tại về mặt tinh thần của chính nó mà thôi. Berkeley không thừa nhận quan điểm ấy. (Thực tế, không một triết gia hàn lâm nào cổ xuý cho Thuyết Duy Ngã cả). Ông vốn tin vào thực tại khách quan, tin vào sự tồn tại của thế giới bên ngoài ý thức cá nhân. Ông nỗ lực chứng minh rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra nên vũ trụ, đồng thời Ngài cũng tạo ra con người có linh hồn, có năng lực chiêm nghiệm vũ trụ ấy. Tuy nhiên, ông nhận định rằng thế giới thực tại bao hàm một bản chất tâm linh, tương đồng với bản chất của kinh nghiệm, tư tưởng và tinh thần.

Chúng ta còn có một bằng chứng khác cho thấy Berkeley không phải là triết gia Duy Ngã. Ông tin rằng người biết (chủ tri) và đối tượng biết (khách thể) là hai thực thể riêng biệt. Đó là quan điểm của Nhị Nguyên Tri Thức luận (Epistemological Dualism). Ngược lại, Thuyết Duy Ngã lại cho rằng chủ tri và khách thể chỉ là một, thế giới thực tại chỉ là một trường ảo hoá mà thôi.

Nếu quan niệm "tồn tại là chứng nghiệm được" của Berkeley được chấp nhận là chân lý, sự tồn tại của các đối tượng nằm ngoài phạm vi chứng nghiệm phải được lý giải như thế nào? Liệu rằng chúng phải được xem là không thực hữu? Câu trả lời của Berkeley là "nếu Thượng Đế cảm nhận chúng, chúng thực hữu." Nói cách khác, mọi thực tại đều phải nằm trong phạm vi chứng nghiệm (dẫu rằng hiện tại không có ngưòi nào chứng nghiệm được), những gì không thể nào chứng nghiệm được tất không thực hữu.

Do xác định rằng thực tại có tính tương đồng với ý tưởng, giới hạn thế giới thực tại siêu hình trong lãnh vực tâm linh (hay tinh thần), Berkeley thường được xem là triết gia theo quan điểm Duy Tâm (Idealist).

f) Chủ nghĩa hoài nghi của David Hume

Sinh trưởng tại Scotland, có thể được xem là triết gia Hoài Nghi (Skeptic) hàng đầu của nhân loại, David Hume (1711-1776) cũng là một triết gia Kinh Nghiệm của Anh Quốc. Giống như trường hợp Berkeley phát triển lý luận của Locke để hình thành phương cách lý giải mớ về thực tại, Hume đã vận dụng các ý tưởng của Berkeley làm nền tảng cho những kết luận mới mẻ của mình.

David Hume

Là triết gia Kinh Nghiệm, Hume gói gọn mọi tri thức trong khuôn khổ nhận thức, phạm vi mà từ đó con người thu nhập được những ấn tượng và hình thành nên các ý tưởng. Cuối cùng, ông đi đến nhận định rằng bất cứ điều gì mà con người không thể nhận thực được đều không thực hữu. Bên cạnh đó, phương pháp, phân tích của Hume còn dẫn ông đến kết luận rằng hầu hết những đối tượng nhận thức, trước đó đã được mặc nhiên thừa nhận là thực hữu, phải được phủ nhận.

Bản chất của thế giới, chất liệu đã hình thành nên nó, điều mà con người không thể nhận thức được, không thể xem là thực hữu. Thượng Đế không phải là đối tượng nhận thức, vì thể không thể cho rằng Thượng Đế là thực hữu. Linh hồn con người không phải là một nhận thức, vì thế linh hồn không tồn tại. Các định luật khoa học, nguyên lý nhân quả, v.v... cũng nằm ngoài khả năng tri giác của con người, vì thế khoa học và các chân lý của nó không thực hữu. Chủ nghĩa Hoài Nghi của Hume (Hume's Skepticism) đi đến tận cùng khi khẳng định rằng tri thức về thực tại tối hậu cũng không thực hữu.

Những kết luận ấy đã đưa David Hume đến chỗ thừa nhận quan điểm Hiện Tượng luận (Phenomenalism), học thuyết giới hạn sự tồn tại trong khuôn khổ hiện tượng. Quan điểm hoài nghi của Hume đối với khoa học vốn dựa trên cơ sở tính bất khả tri giác của các định luật tự nhiện.

Lấy luật vạn vật hấp dẫn làm thí dụ. Khi quan sát một vật thể rơi xuống đất, ta thấy được chuyển động và sự thay đổi vị trí, hoàn toàn không cảm nhận được bản thân trọng lực hay lực hấp dẫn. Thực tế, một người đang rơi chỉ cảm nhận được các thay đổi áp lực trong không khí, hoàn toàn không cảm nhận được lực hút nào cả. Từ lập luận ấy, Hume kết luận rằng các định luật và phương pháp luận khoa học là bất khả tri giác, là ảo tưởng phi thực tế.

g) Chủ nghĩa Duy tâm phê phán của Immanuel Kanl

Mối bất đồng về quan điểm, tồn tại giữa các triết gia Duy Lý của Châu Âu lục địa và các triết gia Kinh Nghiệm của đảo quốc Anh, đã được giả quyết bởi quan điểm dung hợp của triết gia Đức Immanuel Kant (1724-1804). Thoạt đầu, Kant thừa nhận cả hai quan điểm ấy, nhưng về sau ông phát hiện ra rằng không thể thừa nhận chúng một cách riêng rẽ, rằng cần phải dung hợp hai trường phái triết học ấy thành một. Các nguyên lý của Chủ nghĩa Duy Tâm Đức phát triển từ quan điểm triết học ấy của Kant.

Để hình thành tri thức, tri giác và suy tưởng đều cần thiết. Các cảm giác cung cấp cho chúng ta nhận thức, suy tưởng cung cấp cho chúng ta khái niệm. Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, "Phê phán năng lực thuần lý" (the Critique of Pure Reason, 1781-1787), Kant đã viết; "Không có nội dung, tư tưởng trống rỗng; không cái khái niệm, nhận thức mù quáng... Lý trí đơn thuần không thể nhận thức, tri giác đơn thuần chẳng thể suy tưởng. Tri thức xuất phát từ sự phối hợp hoạt động của hai dạng năng lực này". Sự phối hợp ấy (giữa cảm giác và suy tưởng) tạo ra tri thức hoàn chỉnh - giống như sự phối hợp giữa máy móc và nguyên liệu tạo ra thành phẩm vậy! (Trong lối so sánh này, cảm giác được ví như nguyên liệu, lý trí như máy móc và tri thức được ví như thành phẩm).

Kant mở ra cái nhìn về thế giới như là một thực thể tam diện, bao gồm:

    - Thế giới lý trí và hiểu biết tồn tại trong tâm trí của con người.
    - Thế giới hiện tượng mà con người có thể nhận thức được qua giác quan
    - Thế giới thực tại siêu hình, thế giới tâm linh, bất khả tư nghì
    - Thế giới lý trí bao gồm những tri thức mà con người thu thập được từ thế giới hiện tượng.

Tuy nhiên, các đối tượng trong thế giới nhận thức của con người lại được xây dựng trên nền tảng của thế giới thực tại. Tri thức hoàn chỉnh, sản phẩm của sự kết hợp giữa thế giới lý trí và thế giới hiện tượng, chỉ có thể tái hiện bóng dáng của thế giới thực tại. Bị giới hạn trong thế giới hiện tượng, các giác quan của con người không thể thâm nhập được vào thực tại siêu hình. Chính lý trí vận dụng các dữ kiện cảm giác có nguồn từ hiện tượng giới để hình thành nên các khái niệm và hình ảnh về thế giới thực tại. Đó là một tiến trình tinh thần, tái tạo một mô hình thực tại căn cứ theo cách phân định của lý trí về hiện tượng giới. Theo Kant, bởi vì thế giới thực tại là thế giới của tư tưởng và tâm linh, thực tại phải có bản chất tinh thần (hay tâm linh). Đó là kết luận tối hậu của Chủ nghĩa Duy Tâm theo trường phái Kant (Kantian Idealism).

Như đã nêu trên, các giác quan của chúng ta chỉ có thể cảm nhận được hiện tượng giới, không thể trực tiếp nắm bắt được thực tại, vì thế con người chỉ có thể tạo lập được hình bóng của thế giới thực tại. Tri thức hoàn chỉnh về thế giới thực tại là bất khả đắc. Bản chất của thực tại vốn siêu việt, vượt khỏi năng lực của giác quan và nằm ngoài phạm vi tri thức. Đối với con người, tri thức duy nhất khả dĩ chỉ là sản phẩm tổng hợp của cảm giác và lý trí, một hình thức suy luận từ kinh nghiệm. Tri giác không bao giờ có thể vượt khỏi khuôn khổ kinh nghiệm để nắm bắt được thực tại; đó là "chướng ngại muôn thủa", ngăn chặn con người chứng nghiệm chân lý về thực tại tối hậu. Vì thế, mọi tri thức của con người có liên quan đến thực tại luôn sai lệch và thiếu sót. Khẳng định sự bất lực muôn đời của trí tuệ con người trong vòng ràng buộc của kinh nghiệm, vô vọng trước khả năng thâm nhập vào thế giới thực tại siêu hình, lập luận này đã hình thành nên Thuyết Bất Khả Tri của trường phái Kant (Kantian Agnoticism).

Theo Kant, Thượng Đế, tự do, sự bất tử và tâm linh, v.v... là những đối tượng "siêu nghiệm" (transcendental objects) với bản chất "phi hiện tượng" (noumenal-thuật ngữ do Kant đề ra). Đó là những đối tượng của dạng tri thức phi luận lý, không thể chứng nghiệm bằng tri giác mà phải được thừa nhận với đức tin. (Thực tế, Chủ nghĩa Vô Thần và Chủ nghĩa Chủ nghĩa Hư Vô cũng đưa ra tri thức nằm ngoài khuôn khổ kinh nghiệm, cần được thừa nhận với lòng tin). Dạng tri thức phi luận lý ấy đã cung cấp cho nhân loại những ý tưởng siêu việt, giúp con người vượt qua các "khoảng trống" và "nghi vấn" (nảy sinh từ sự bất toàn của kinh nghiệm cảm giác) trong quá trình kết hợp trí thức thành một khối thống nhất.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng thế giới thực tại của Kant là một thế giới siêu nhận thức (supersensible). Nếu giới hạn nhận thức trong khuôn khổ kinh nghiệm giác quan, con người phải tự bằng lòng với lượng tri thức hạn hẹp về thế giới hiện tượng mà mình có thể cảm nhận được.

h) Chủ nghĩa Duy tâm tuyệt đối của Georg Wilhelm Friedrich Hegel

Là một triết gia Duy Tâm Đức, Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng của Kant, một phần từ các tác phẩm của Heraclitus và Spinoza. Ông được ghi nhận là người có công hình thành nên các ngành triết học tôn giáo, lịch sử triết học, triết học lịch sử và một số nguyên tắc triết lý khác. Hegel còn để lại một cống hiến có ý nghĩa vĩnh hằng cho bộ môn luận lý học (về sau được Karl Marx phát triển thành hệ thống các học thuyết của Chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng). Đó là một hệ thống lý luận sinh động, được biết đến với tên gọi Biện Chứng Pháp của Hegel (Hegelian Dialectic), có khả năng khám phá ý nghĩa của thực tại hteo một tiến trình. Biện chứng hàm nghĩa lý luận và phê phán, một hình thức đối thoại. Đối với Hegel, đối thoại là bản chất đích thực của tinh thần.

bantinsom.com (theo chung ta)

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

Thích thú với cà phê vỉa hè ở Sa Pa

Chỗ ngồi như một vỉa hè, lại còn lủng lẳng bắp ngô, hoa chuối và các bề tường thì chi chít những dòng chữ đủ sắc màu…

Quán chỉ cách khách sạn tôi ngụ lại hơn chục bước chân, thế nhưng tôi chẳng hề biết được sự tồn tại của Sapa Coffee Corner cho đến cận ngày về.
Tôi nhận ra sự có mặt của quán khi nghe một giai điệu quen từ một đĩa nhạc mà tôi rất thích. Dòng nhạc này thường chỉ mở trong các quán cà phê hi-end với những thiết bị trang âm trong phòng kín. Vậy mà ở đây, giữa ngã tư lắm người tản bộ, giữa những con dốc thấp cao và miên man sương mù, tiếng nhạc vẫn khá ấm áp, du dương. 


Với người lữ khách là tôi thì thứ âm thanh quen thuộc kia còn làm ấm lòng, giữa chiều muộn của Sa Pa sương giá.
Tôi chọn một góc bàn nhỏ, có chân được làm từ một bánh xe hơi và chỗ ngồi là những cái đòn thấp. Thật ra, ở đây không có nhiều sự lựa chọn. Hoặc bạn sẽ ngồi lộ thiên ở dãy bàn dưới tán ô như một vỉa hè, hoặc sẽ ngồi bên trong với những bức tường nhiều “phụ kiện” như nhà một người H’Mông sung túc. 


Từ “vỉa hè” tôi có thể quan sát được mặt tiền quán. Bên dưới mái tranh úa màu có vô số những món đồ đặc trưng của Tây Bắc. Có gánh trái cây miền ôn đới, có hoa chuối rừng đỏ tươi, có những giò lan quý hiếm, có bí ngô và bắp ngô lủng lẳng bên khung cửa. Một quang cảnh thật vui mắt!
Không khó để tôi gặp Peter, chủ nhân của nơi này. Anh vốn là người Tràng An nhưng có nhiều năm du học ở nước ngoài nên có ngoại hình, và lối nói chuyện rất “Tây”. Peter kể, anh tốt nghiệp ngành xã hội, hiện đang làm việc cho một tổ chức phi chính phủ. Vì quá yêu con người và vùng đất này nên anh mở quán, cốt là để tìm cớ ở lại Sa Pa.

Coffee Corner ra đời như thế, với ý tưởng mang café vỉa hè của Hà Nội đặt vào không gian đa sắc của vùng cao. Thế rồi cái vẻ ngồ ngộ, xinh xinh của nơi này nhanh chóng trở thành điểm đến thường xuyên của các cánh hướng dẫn viên, của văn nghệ sỹ và của những vị khách Tây Tàu.
Peter đã châm thêm mấy tuần trà nhưng câu chuyện về các bản làng, về các địa danh, về lớp Anh văn anh dạy các em nhỏ… vẫn chưa dứt. Cứ huyên thuyên như những người bạn thân.


Trà ngon, nhạc ấm, khách thân tình, đêm ở vùng cao mới chớm đông đã lạnh buốt, với người quen sống ở phương Nam ngập nắng. Peter đi nhóm lò than, vừa để tôi sưởi ấm, vừa để nướng ngô, khoai.
Nhạc vẫn dặt dìu, sương vẫn lãng đãng và trà vẫn ngát hương, nhưng tôi phải về! Về để giữ chút tiếc nuối, luyến lưu với Sa Pa và mong ngày trở lại. Từ nay tôi có thêm một địa điểm, trên bản đồ du lịch của riêng mình.

                                                                                                                               http://sapacafe.vn

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Quan niệm Chính danh của Nho Gia

Nếu Phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hóa triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy. Một trong những tư tưởng triết học Phương Đông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lý, đạo đức, siêu hình, chính trị - xã hội đó là những tư tưởng triết học của Nho Gia. Trong bài này tôi xin được đề cập đến ba vấn đề sau :
      1. Bối cảnh ra đời học thuyết Chính danh
      2. Học thuyết Chính danh một sáng kiến của Khổng Tử
      3. Nội dung của học thuyết Chính danh
      4. Nhận định và phê bình về thuyết Chính danh  
                                                                             
           Nho Gia xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (1551 tr. CN – 479 tr. CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho Gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau; duy tâm và duy vật trong đó dòng Nho Gia Khổng Tử và Mạnh Tử có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
1.   - Bối cảnh ra đời học thuyết Chính danh
Khổng Tử sinh thời của ngài thường nói với học trò rằng “(Ngô) thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”[1] nghĩa là : Ta chỉ thuật lại mà không trước tác, tin vào đạo lý đời xưa. Các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử ngày nay đều cho rằng, trong các tác phẩm như Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận Ngữ… thì chỉ có quyển Luận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất[2] vì những lời phát biểu của Khổng Tử trong sinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học trò của ngài. Do đâu mà Khổng Tử đề ra học thuyết Chính danh?
Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu. Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn. Ngài lấy làm tiếc cái thời đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu Công… sao mà thời đại tươi đẹp, phong hóa tốt tươi đến thế! Ngài nhìn thấy tình cảnh “Tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân của một sáng một chiều”[3]. Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó. Mà cái cớ này không tự dưng mà có mà nó được tích lũy dần dần qua thời gian mà đến một thời điểm nào đó, chúng ta tạm gọi đó là điểm nút thì sẽ xảy ra kịch tính như trên. Kinh dịch có câu “Đi trên sương mà băng giá tới” (Lý sương kiên băng chí) là thuận với lẽ diễn tiến tự nhiên của mọi sự vậy.
Khổng Tử thấy tình trạng xã hội thời ngài hỗn loạn đến nỗi “Tôi giết vua, con giết cha” là tệ hại lắm rồi, nhưng ngài là người không thích bạo lực, không thích làm cuộc thay đổi triệt để để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần. “Ông nghĩ rằng muốn cho xã hội có trật tự, thì trước hết phải Chính danh, mỗi cái danh bao hàm một số điều kiện tạo nên bản chất một loại sự vật mà danh liên quan đến. Bản chất của ông vua là những điều kiện lý tưởng mà ông vua phải có, nghĩa là những điều kiện hợp với “vương đạo”. Hành động theo vương đạo thì ông vua mới thật là vua, ông vua vừa hợp với thực vừa hợp với danh. Như vậy là có sự phù hợp giữa danh và thực. Nhưng nếu ông vua không hành động theo vương đạo, thì không phải là vua nữa, mặc dầu dân chúng vẫn coi là vua. Những tương quan trong xã hội, mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận nào, và những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn phận phù hợp với danh ấy. Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử”.[4]
2.    - Học thuyết Chính danh, một sáng kiến của Khổng Tử
Hầu hết các nhà Nho, các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử đều thừa nhận rằng học thuyết Chính danh là một sáng kiến mới của Khổng Tử. Do chính ngài quan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên cho ra trên, dưới cho ra dưới ; vua cho ra vua, tôi cho ra tôi,… nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh. Thực chất, học thuyết Chính danh không những chỉ có giá trị ở thời ông. Nói theo cách của học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết lời mào cho cuốn Khổng Tử đã phát biểu rằng : “Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó có giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.”
3.      -  Nội dung của học thuyết Chính danh
Các nhà nghiên cứu về Nho Gia và Khổng Tử đều trích dẫn một số câu vấn-đáp của thầy trò Khổng Tử trong Luận Ngữ, Thiên Tử Lộ vì cho rằng đó là câu chìa khóa của học thuyết Chính danh. Tôi cũng xin chép ra đây để tham khảo.
“Tử Lộ viết : Vệ quân đãi Tử nhi vi chính, Tử tương hề tiên?
Tử viết: Tất dã chính danh hồ!
Tử Lộ viết : Hữu thị tai, tử chi vu dã, hề kỳ chính?
Tử viết: Dã tai Do dã! Quân tử ư kỳ sở bất tri, cái khuyết như dã. Danh bất chính tắc ngôn bất thuận. Ngôn bất thuận tắc sự bất thành. Sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng. Lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng. Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc. Cố quân tử danh chi tất khả ngôn dã. Ngôn chi tất khả hành dã, quân tử ư kỳ ngôn vô sở cẩu nhi dĩ hỹ.”[5]
Nghĩa là : Tử Lộ hỏi : Nếu vua nước Vệ mời thầy về giúp cai trị nước, thầy làm gì trước?
Khổng tử đáp : Tất phải lấy chính danh làm trước vậy!
Tử Lộ hỏi : Có việc ấy sao? Thầy vu khoát lắm! Thế nào gọi là chính danh?
Khổng Tử đáp: Anh Do quê mùa này! Người quân tử có điều gì mình không biết thì bỏ qua mà không nói. Nay danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành thì tất lễ nhạc không hưng thịnh. Lễ nhạc không hưng thịnh thì tất hình phạt chẳng đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép thì tất dân không biết đặt tay chân vào đâu để nhờ cậy. Cho nên người quân tử quan niệm được danh ắt nói ra được, mà nói ra được tất làm được. Người quân tử nói ra điều gì nên dè dặt không cẩu thả được!
Học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong Hồi Ký của mình rằng : “Thuyết chính danh của ông (Khổng Tử) đẻ ra thuyết giết một bạo chúa là giết một tên thất phu của Mạnh, bắt bọn cầm quyền phải có đức, phải thương dân; ông điều chỉnh lại quyền lợi, nghĩa vụ của vua tôi; ông lại đào tạo một giai cấp mới : Kẻ sĩ để trị nước, thay thế bọn quý tộc thiếu tài, thiếu đức, giai cấp đó đa số sống ở trong giới bình dân, địa chủ mới và thương dân mà ra.”[6]
Học thuyết chính danh của Khổng Tử không chỉ chỉ được áp dụng trong chính trị, cai trị mà còn được ông áp dụng trong cách gọi tên sự vật, đồ vật. Sách Nho Giáo có câu chuyện về cái bình đựng rượu được gọi là cái “cô”. Thời trước Khổng tử, cái bình đựng rượu có cạnh góc người ta gọi là cái “cô”. Đến đời Khổng Tử, người ta làm cái bình đựng rượu bỏ cạnh góc đi mà vẫn gọi là cái “cô”, Khổng Tử không hài lòng về tên gọi này vì theo ông, nếu cái bình đựng rượu muốn được gọi là cái “cô” thì phải phục hồi hình dạng cũ của nó. Còn nếu không thì gán cho nó một cái tên mới mà không gọi là cái cô nữa. (Khổng Tử, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Hóa 1995).
Qua hai dẫn chứng trên chúng ta thấy Khổng Tử rất coi trọng tôn ti, trật tự, trên dưới, mà tư tưởng này đã có trước thời Khổng Tử rồi. Nó bị biến dạng dưới thời ông, do đó, ông xiển dương học thuyết Chính danh để sửa trị lại trật tự xã hội, sự cai trị. Đặt sự vật với đúng tên gọi của nó (trường hợp cái “cô”).
Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện “Chính danh”. Mỗi cái danh đều mang trong nó những điều kiện bản chất mà vật mang danh ấy phải thực hiện cho đúng. Trong xã hội vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, … Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử. Sau này các triết gia Trung Quốc đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển nó dựa trên nền tảng mà ông đã đưa ra.
Mặc Tử có quan niệm khác về danh và thực. Nếu Khổng Tử đưa ra sự phù hợp giữa danh và thực theo nghĩa mang danh nào thì phải có tính chất đúng với cái danh ấy thì Mặc Tử lại có quan điểm “thủ thực dữ danh”, tức là phải dựa vào sự vật và hành vi trong tồn tại mà đặt tên. Phát triển quan điểm đó Mặc Tử còn đưa ra ba tiêu chuẩn (tam biểu) để đi tìm cái đúng : căn cứ vào những kinh nghiệm của các thánh nhân đời xưa, căn cứ trên kinh nghiệm của bách tính, và căn cứ trên sự xác nhận của thực tiễn khi đem một chính sách ra dùng.
Tuân Tử thuộc Nho Gia kế thừa học thuyết của Khổng Tử kết hợp với những thành quả của Mặc Gia đã thành lập một hệ thống lý luận khá chặt chẽ, làm nền tảng cho sự diễn tả thuyết chính danh Nho học của ông.
4.      - Nhận định và phê bình về thuyết Chính danh.     
Học thuyết Chính danh do Khổng Tử sáng kiến cách đây hơn 2.500 năm từ thời Trung Quốc còn đang ở chế độ phong kiến phân quyền với lòng mong muốn của ông phục hồi lại chế độ, lễ lạc tốt đẹp của thời nhà Chu ban đầu khi ông nhận thấy tình trạng xã hội khá lộn xộn, mất tôn ti trật tự. Ông vốn là người khoan hòa, tuy có tư tưởng cách mạng nhưng không thích chiến tranh, do đó ông mới đề ra học thuyết Chính danh để cải tạo xã hội một cách dần dần.
Theo cách nói của học giả Nguyễn Hiến Lê thì “Nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.” Chính danh là làm việc không mờ ám, không che dấu sự thật hoặc bóp méo sự thật. Thiết nghĩ rằng, chúng ta còn phải tiếp tục nêu cao chính nghĩa, nêu cao những tấm gương người tốt, việc tốt tiêu biểu để thu phục được lòng tin của nhân dân. Triết học Trung Hoa cổ, trung đại là một bộ phận quan trọng của triết học phương Đông, trong đó có thể nói Nho Gia là một trường phái quan trọng và có giá trị vào loại bậc nhất. Mặc dù ra đời để phục vụ cho chế độ phong kiến nhưng đến nay nhiều tư tưởng, quan niệm về xã hội, con người, đạo đức, giáo dục,… của Nho Gia vẫn còn giá trị và mang tính thời sự, như tư tưởng nhân nghĩa và học thuyết Chính danh. “Nhân nghĩa” có ý nghĩa trong mọi mặt của đời sống, nhưng “Chính danh” lại tác động sâu sắc tới việc đảm bảo trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt là ở lĩnh vực chính trị.
“Chính danh” theo Khổng Tử đề xướng là một nguyên tắc cai trị xã hội, được hiểu là : một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với cái danh nó mang, có nghĩa là đảm bảo sự phù hợp giữa cái danh và cái thực. Đây là một học thuyết có giá trị không chỉ trong thời phong kiến mà cả trong thời hiện đại. Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện “Chính danh”. Mỗi cái danh đều mang trong nó những điều kiện bản chất mà vật mang danh ấy phải thực hiện cho đúng. Trong xã hội vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, … Đó là ý nghĩa thuyết Chính danh của Khổng Tử. Sau này các triết gia Trung Quốc đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển nó dựa trên nền tảng mà ông đã đưa ra. Người nào cũng phải công nhận rằng học thuyết Chính danh là một sáng kiến của ông và đó là sự đóng góp quan trọng của ông cho Trung Quốc nói riêng và nhân loại nói chung.
Tuy nhiên bên cạnh đó học thuyết Chính danh cũng có một số hạn chế đó là lối sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Trong gia đình, người cha, người chồng, người anh cả là người có quyền lực cao nhất, người phụ nữ trong gia đình bị phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, không có quyền tham gia vào những việc đại sự trong gia đình. Đặc biệt đạo “tam tòng” (Tại gia tòng phu, xuất gia tòng phụ, phu từ tòng tử), (ở nhà thì phải nghe theo cha, đi lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) đã trói buộc người phụ nữ họ không có quyền tự chủ quyết định cuộc đời và tương lai của mình.
Ở Việt Nam, học thuyết Chính danh cũng như Nho giáo nói chung đã góp phần hình thành nên hệ thống tư tưởng triết học mang đậm bản sắc dân tộc. Trong khi các nguyên tắc cai trị xã hội của Nho giáo Trung Hoa có phần cứng nhắc và hà khắc thì ở Việt Nam thấm sâu tình nhân ái và lòng yêu nước được đặt lên hàng đầu.
Nói tóm lại thuyết chính danh cũng như Nho giáo có vai trò quan trọng trong nền triết học cổ, trung đại Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung. Và thuyết Chính danh nguyên thủy do Khổng Tử đề xướng là nền tảng để các nhà Khổng giáo đời sau phát triển cho phù hợp với xã hội Trung Quốc luôn biến chuyển góp phần ổn định trật tự xã hội. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1/ Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương, Hồ Thích, bản dịch của dịch giả Minh Đức, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004.
2/ Khổng Tử của học giả Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Hóa 1995.
3/ Nho Giáo Quyển Thượng của cụ Trần Trọng Kim, Trung Tâm Học Liệu xuất bản 1971.
4/Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc, Phùng Hữu Lan, bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Dương, NXB Thanh Niên.
5/ Lịch Sử Triết Học Phương Đông tập I của học giả Nguyễn Đăng Thục, NXB TP. Hồ Chí Minh 2001.
6/ Nho Giáo Trung Quốc của nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan.
7/ Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học tái bản lần VI 2006.
8/ Tứ Thư, Đoàn Trung Còn dịch, NXB Thuận Hóa 2006.


[1] Luận Ngữ, thiên Thuật, Đoàn Nhi (rút ra từ tập Tứ Thư Trung Còn dịch, NXB Thuận Hóa 2006).
[2] Học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết về Khổng Tử thì chỉ dùng bộ Luận Ngữ mà thôi.
[3] Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương, Hồ Thích, Minh Đức dịch, NXB Văn Hóa Thông Tin 2004, tr.156.
[4] Sđd tr. 57
[5] Luận Ngữ, Thiên Tử Lộ trong bản in Tứ Thư của dịch giả Đoàn Trung Còn, NXB Thuận Hóa 2006, tr. 196-198.
[6] Xem Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học 2006 tái bản lần thứ 6, tr.722.
                                                      
                                                                                                                                        Paul Alex

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Đạo đức học của Plato và ảnh hưởng của nó trên các trường phái triết học

Học thuyết đạo đức của Plato đã chống lại học thuyết hoài nghi của các nhà ngụy biện, ông nêu lên khái niệm của Socrates “Tri thức là đức hạnh” và khai triển khái niệm này bằng cách thêm vào hai yếu tố chính đạo đức học cá nhân và xã hội : chúng ta sẽ lần lượt xem xét hai yếu tố này.
                                                                     
1.    Đạo đức học cá nhân

1.1  Plato nói về đạo đức học cá nhân trong ý tưởng về linh hồn
Plato mô tả linh hồn gồm có ba phần : lý trí, tinh thần và dục vọng[1]. Trước hết có sự ý thức về mục tiêu hay giá trị, đây là hành vi của lý trí. Kế đến có một lực thúc đẩy hành động, đó là tinh thần, ban đầu mang tính trung lập, nhưng rồi ngả theo đường hướng của lý trí. Sau cùng, có ham muốn về những điều của thân xác, đó là dục vọng. Như ông đã minh họa trong quyển Phaedrus như sau :  “Người đánh chiếc xe có hai con ngựa kéo, một con là ngựa tốt, không cần roi vọt gì cả. chỉ cần anh đánh xe nói và hướng dẫn là đi đúng đường. Còn con kia là ngựa xấu, ngang ngược và bất kham … dùng roi vọt cũng không trị nổi nó. Mặc dù anh đánh xe biết rõ mình phải đi đâu và con ngựa tốt đang chạy đúng đường, nhưng con ngựa xấu lồng lên và chạy loạn xạ, gây đủ thứ rắc rối cho con ngựa bạn và anh đánh xe. Cảnh hai con ngựa chạy theo hai hướng nghịch nhau và anh đánh xe thất vọng đứng nhìn vì con ngựa không nghe theo lệnh của anh, đánh động mạnh trí tưởng tượng của chúng ta, vì nó cho thấy rõ sự phá vỡ trật tự. Người đánh xe, vì là người cầm cương ngựa, có bổn phận, quyền và chức năng hướng dẫn điều khiển hai con ngựa. Cũng vậy, phần lý tính của linh hồn có quyền điều khiển phần tinh thần và phần dục vọng. Hiển nhiên anh đánh xe không thể đi đâu nếu không có hai con ngựa, vì vậy cả ba phải liên kết với nhau và làm việc chung với nhau để đạt các mục tiêu chung”[2]
Đối với Plato, đức hạnh bị trói buộc theo lý thuyết về bản chất tự nhiên của vũ trụ. Ông cho rằng, thế giới của nhận thức là điều hão huyền, biến đổi và phù du. Đây chính là cái ác. Một thế giới trần tục tinh khiết, những mẫu mực lý tưởng không thay đổi là một thế giới của cái thiện. Con người chỉ có thể hiểu được thế giới trần tục này thông qua sự nhận thức. Do đó, sự nhận thức là cái thiện hoàn hảo nhất đối với con người. Mục đích hay mục tiêu của cuộc sống là giải thoát linh hồn khỏi thể xác để có thể suy gẫm về ý tưởng của thế giới đích thực. Nhưng con người có thể sống một cuộc sống chính đáng, dù bị kiềm giữ trong thể xác và giữ nguyên những tàn dư vật chất thay đổi trên thế gian. Plato cho rằng, điều này có thể thực hiện được, miễn là phần lý trí của con người quyết định mọi hành động của họ. Con người gồm có ba phần. Sự thèm muốn của con người có liên quan đến chức năng và ham muốn của thể xác. Phần ý chí hoặc tinh thần được cho là do hành động, lòng can đảm và sự dũng cảm của con người. Lý trí được coi là phần cao cả nhất, tốt đẹp nhất của con người. Một người sống một cuộc sống tốt đẹp là khi lý trí quyết định sự mong muốn, nguyện vọng và sự thèm muốn của người đó, và kết quả là người đó trở thành một con người khôn ngoan, ôn hòa và dũng cảm. Do đó, một cuộc sống có lý trí là cái thiện cao cả nhất của con người, đó là một cuộc sống chú ý đến sự khôn ngoan, can đảm và biết làm chủ bản thân. Theo Plato, kiểu sống này sẽ là một cuộc sống hạnh phúc. Niềm hạnh phúc và cái thiện cùng đồng hành với nhau. Tuy nhiên, một người không nên đi tìm sự hưởng thụ vật chất giống như đích đến của cuộc đời. Sự khoái lạc chỉ có khi một người đã có được một đời sống tốt đẹp, một đời sống mà ở đó lý trí quyết định ý chí, nguyện vọng và sự thèm muốn của con người. 

1.2  Đức hạnh như là một chức năng của linh hồn
Lý tính và phi lý tính. Phi lý tính gồm hai phần : tinh thần và dục vọng. Phần lý tính được tạo dựng bởi Tạo Hóa – linh hồn của Vũ Trụ. Phi lý tính được tạo dựng bởi các thần linh. Phần phi lý tính là phần không hoàn hảo nó kéo linh hồn rơi xuống nhập vào một thân xác. Vì vậy linh hồn muốn tìm về chỗ cũ của nó, nó phải hướng thượng. Chính vì thế mà đạo đức học của Plato là đi từ trên xuống và mình phải bắt trước. Linh hồn có một bản chất bất trị và xấu nơi những thành phần phi lý tính của nó, nguyên nhân của cái ác đã tồn tại ngay từ tình trạng tiền hiện hữu của linh hồn.
Linh hồn là hoàn hảo theo bản tính. Khi linh hồn từ bỏ thế giới hình thức nhập vào thân xác, nó đi từ thế giới cái một sang thế giới cái nhiều. Linh hồn trôi dạt giữa biển cả rối rắm của muôn vàn sự vật và chịu tác động của mọi thứ sai lạc do bản chất lừa dối của các sự vật. Trong thân xác, linh hồn cảm nghiệm cảm giác ham muốn, lạc thú, đau đớn cũng như sợ hãi và tức giận. Linh hồn cũng cảm nhận được sự yêu thích với một loạt những sự vật đa dạng từ miếng ăn đơn sơ nhất đến nếm cảm sự ngọt ngào của tình yêu, chân lý, cái đẹp thuần túy và vĩnh cửu. Thân xác như một chướng ngại vật khó chịu đối với linh hồn. Khi nhập vào thân xác, sự hài hòa ban đầu của các phần khác nhau của linh hồn tiếp tục bị đảo lộn, tri thức trước kia bị bỏ quên, mà tính trì trệ của thân xác như là một chướng ngại vật khó chịu làm cản trở sự phục hồi tri thức.
Vậy làm thế nào để phục hồi đạo đức đã mất? Plato cho rằng : Lý trí phải dành lại quyền điều khiển các phần phi lý tính của bản ngã. Chỉ tri thức là có khả năng tạo ra đức hạnh, bởi vì chính sự ngu dốt hay tri thức sai lạc đã tạo ra cái ác. Tri thức nằm sâu trong ký ức trí khôn. Những gì linh hồn biết trước kia bây giờ nhớ lại. Nó di chuyển từ bóng tối ra ánh sáng, từ mê muội sang hiểu biết. Phải có một tác nhân bên ngoài giúp linh hồn thức tỉnh, bắt linh hồn đứng dạy, quay lại…và vươn tới ánh sáng. Khi trí khôn đi từ mức độ thấp lên cao, nó dần nhớ lại những gì nó đã biết trước đây và cần phải biết để đạt sự hòa hợp nội tâm. Sự phát triển đạo đức song song với tri thức của người ấy, vì sự tăng trưởng tri thức làm gia tăng tình yêu đối với chân, thiện và mỹ (cái đẹp)[3]. Đức hạnh là tri thức, vì đó là hành trình đi tìm kiếm khôn ngoan để biết hành động nào là đúng thật sự, tri thức đích thực về những hậu quả của mọi hành vi, đức hạnh là sự hoàn thành một chức năng độc đáo.
Đời sống tốt lành là đời sống có sự hài hòa nội tâm, an lạc và hạnh phúc . Lý trí có một chức năng và chỉ tốt khi nó hành động đúng. Dục vọng có chừng mực, không lấn lướt lý trí, quân bình trong lạc thú và ước muốn sẽ dẫn tới đức hạnh tiết độ. Ý chí thuộc phần tinh thần của linh hồn, giữ giới hạn và chừng mực, tránh hành động nông nổi, trở thành sức mạnh đáng tin cậy dẫn tới đức hạnh can đảm. Lý trí không để mình bị khuấy động bởi những dục vọng dẫn tới đức hạnh khôn ngoan. Tiết độ là sự kiểm soát hợp lý các dục vọng. Can đảm là sự sai khiến hợp lý của tinh thần. Mỗi phần hoàn thành chức năng chuyên biệt của mình sẽ dẫn tới đức hạnh công bằng. Công bằng là đức hạnh tổng hợp, nó phản ánh sự đạt tới an lạc hài hòa nội tâm của con người. Điều này chỉ đạt được khi mỗi phần của linh hồn hoàn thành đúng chức năng của mình. Như vậy, công bằng là sự hài hòa bên trong linh hồn giữa ba quan năng : lý trí, tinh thần và dục vọng. Công bằng là tạo điều kiện cho con người hoàn thành chức năng của mình.

2. Đạo đức học xã hội.
Ba cấp nhà nước là sự mở rộng của ba thành phần linh hồn, gồm : triết gia vua (Vàng), giai cấp những người giữ gìn an ninh (Bạc) và gia cấp thương gia cùng các thợ thủ công (Đồng). Vậy muốn có một xã hội tốt lành thì phải tạo ra một xã hội công bằng. Công bằng trong xã hội chính là tạo điều kiện cho con người hoàn thành chức năng của mình. “Công bằng khi thể hiện ra đời sống chính trị thành quốc cũng là sự hài hòa giữa ba thành phần xã hội : triết gia vua, gia cấp những người giữ gìn an ninh và gia cấp thương gia cùng các thợ thủ công. Công bằng là sự đồng thuận hoàn hảo, sự hài hòa trên dưới của cả ba : những thèm muốn (dục vọng) lệ thuộc vào tâm hồn (tinh thần) và tâm hồn vào lý trí, cũng như công bằng xã hội là sự hài hòa trên dưới của ba giai cấp cần thiết cho nhau : những người cai trị, những chiến sĩ hay những người giữ an ninh và những người thợ thủ công làm công việc sản xuất”[4].
3. Ảnh hưởng đạo đức học của Plato đến các trường phái triết học : chủ nghĩa Khắc Kỷ, Tân Plato, Thánh Augustinô và Trên Xã Hội, Tổ Chức, Hội Dòng.
3.1 Đối với chủ nghĩa Khắc Kỷ
Quan niệm rằng vũ trụ và thượng đế là một, sống minh triết là không sống theo những đam mê nhục dục, biết được cái vận mệnh, biết phân biệt cái thay đổi và không thay đổi, đóng trọn vai trò của mình trong vở kịch định mệnh (nhân loại). Trường phái này đã dựa trên đạo đức học của Plato : định mệnh là sự giằng co giữa hai lực, lực vật chất thì kéo xuống còn lực của hồn thì kéo lên ; thuyết chính trị của Plato : Vua, Lính và Thương Gia, và dựa trên thuyết hồn của Plato dùng lý trí để điều khiển tinh thần và dục vọng.

3.2 Đối với Tân Plato
Nỗ lực kết nối giữa Plato (hình học) và Aristotle (siêu hình học). Thuyết lan tỏa : hồn vũ trụ sinh ra các cái hồn khác. Theo Plato cái hồn vũ trụ được tạo dựng từ ý niệm và vật chất. Đối với vấn đề đạo đức, con người biết con đường đi lên và bản chất của sự thiện hảo.

3.3 Đối với Thánh Augustinô
 Khao khát của con người tạo vật hữu hạn đam mê cái vô hạn (hình ảnh con chim trong lồng của Plato). Do đó chỉ có cái vô hạn (Thiên Chúa) mới thỏa mãn cái mà con người tìm kiếm sự thiện hảo. Bản chất con người là hữu hạn, vì vậy con người phải sống trong tình yêu, sống theo trật tự sau:
* Thiên Chúa
* Chính Mình
* Tha Nhân
* Sự Vật
Hồn chỉ thỏa mãn với những cái gì bất diệt thôi. Đối với Plato ; hồn luôn đánh động con người để trở về với cái ý niệm (hồn) theo thuyết hồi tưởng của ông. Còn Thánh Augustinô : con người cần phải trở về với chính mình để tìm kiến sự Thiện Hảo (thuyết soi sáng của Augustinô)
3.4 Đối với xã hội, tổ chức hay hội dòng
            Tư tưởng cảm nghiệm tôn giáo của đấng sáng lập (viễn tưởng), qui tụ các môn đệ và bành trướng ý tưởng ban đầu sau đó phát triển mạnh mẽ, qui chế hệ thống, sống theo luật và hiến pháp, tranh chấp và cách sống hiến pháp, khủng hoảng, canh tân, giải tán và ly khai. Khi canh tân người ta  phải trở về với ý tưởng ban đầu, cắt bỏ những cái không phù hợp. Qua tiến trình trên ta thấy xã hội phản ảnh sự quân bình của con người. Xã hội muốn có trật tự, ổn định thì con người trong xã hội đó phải sống quân bình. Đạo đức học cá nhân của Plato cho thấy rõ hồn ở trong xác, xác làm cho hồn nặng nề, con người phải sống hài hòa quân bình với chính mình với thiên nhiên và với vũ trụ.
4. Ưu và Khuết điểm đạo đức học của Plato.
4.1 Ưu điểm
Plato đặt nền tảng đạo đức trên cái mô biểu, thế giới phản ánh cái thực tại sâu hơn nó, hình bóng phản ánh thực tại, những gì ta sống là phản ánh thực tại. Cá nhân tìm sự quân bình, lý trí điều khiển đam mê và dục vọng. Xã hội vua phải lãnh đạo lính và thương gia. Đạo đức học của Plato nói lên được cái cốt lõi của con người và xã hội là sự Thiện Hảo.
4.2 Khuyết điểm
Quá lý tưởng khó mà áp dụng cho xã hội dân chủ ngày nay. Con người có sự khao khát thiện hảo, nhưng ai có thể nói về cái ý niệm tuyệt đối và thiện hảo? Khía cạnh cá nhân lý trí điều khiển tinh thần và dục vọng, nhưng con người còn phức tạp hơn nữa : nó có bản năng, siêu ngã. Đạo đức học của Plato quá đơn giản, chưa giải quyết được cái tất định và tự do.     
                                                                                                                          Paul Alex


[1]Sđd Trang 57
[2]Sđd Trang 58
[3] Sđd, Trang 61
[4] Hỏi Đáp Triết Học Tập III, Lịch Sử Triết Học Tây Phương, NXB Trẻ, Trang 29, 30

                                                                                                                                          Paul Alex