Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Tờ lịch gỡ mỗi ngày

Nhà tôi treo mlc lch to nơi phòng khách, mi sáng thc dy, tôi g mt t quăng đi Khi ló t mi, tôi xem k câu danh ngôn nếu có, coi đy như li dy d đu ngày ca các bc tin bi! Không biết ai sao, riêng tôi thy tâđc vic này lm!
Ví như, sáng th 2 tun trước, ng dy liđến bóc t lch, t mi cóghi câu danh ngôn ca Turenne: Tôi có ý kiến này mun tng bn: Đó là, mi khi bn mun nói, bn hãy làm thinh. Xem cây xong, tôi ngm nghĩ… và thy có lý, hay lm. Quá hay đi ch! Li khuyên răn này rt xáđáng, đã đúc kết mt kinh nghim quí báu trong cuc sngđy nhng chuyn khôn lường ca lòng d con người! Và, ngày hôđó tôi cn ngôn hơn! Tôi ch thc hành na câu nóy mà cũng thy mình khá ri! Còn thc hành nguyên câu dĩ nhiên là không ni! Xin cơnông hay bà Turenne người nước nào tôi không rõđã cho tôi mt chút ca báu git lưng phòng thân trêđường đi gian truân! Tôi không mun coi tiếp câu danh ngôn ca ngày kế tiếp , c gi bí mđ đó, vi gì!
Đến sáng ngày th 3, ng dy, tôi li g lch, gp câu nói ca Swift: Ni gin là t gánh giùm li ca người khác!. Chí lý! Di gì mà ni gin cơ ch! Qu nhiên, cây táđng nơi tng sâu thm tâm hn, ngày hôđó gp nhiu vic bc mình, mà tôđâu có thèm gin! Ngu gì gánh li k khác! Li phi cơn cáông Swift hay bà Swift gì đó na!
Rng đông ngày th 4, li ló t lch ghi câu ca Montesquieu: Phi khóc con người lúc sinh ra, ch đâu phi lúc chết. Chết ri có phi làm gì nđâu mà cc vi nhc! Thế thì cũng ch nên khóc lóc mà làm chi!  nh! L tht! Cái chếđt nhiên gim b mt khng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phi có chúít tác dng ca Montesquieu mi ra thế! Và, ngày hôđó tôi ngh lc hơn, yêđi hơn! Li cm thy mình cng cáp lên!
Sang ngày th 5, t lch hin lên câu ngn ng Ba TưLưỡi dài thu ngđi sngÔi, quá cht lượng! Dân Ba Tư kinh nghim quá dày dn! Nói lm ch được cánguy to, ch được cárước ha vào thân! Còn nh trong ngày, lúc nhu cùng bn bè, vy mà tôi cũng ráng tnh khu! C s sa vào cáv mm!
Đến ngày th 6, t lch lp lánh câu danh ngôn khác, tht cao siêu ca Villier de lIsle Adam: Người nhc m bn, h ch nhc m ý nghĩca h có v bn, tc là h nhc m chính h!. Câu này trong tng sâu là đúng, nhưng thc hin qu là thiên nan vn nan! Lên hàng thánh mi xàđược! Tâđc lm nhưng c ct yêđy! Công lc chưđ, ch thi gian na hng hay!
Sáng ngày th 7, li ló câu ca Cervantes: Ăn to thì di chúc nhÚi cha! Cũng có lý quá! Tôi coi tiếp luôn ngày Ch nht xem sao Đó làcâu ca G. Herbert: Ai cũng có mt thng điên trong ng tay áo. Trđt! Li cũng quá đúng! Nhng lúc bưng ly bia, cc rượu ch đông người, trong ng tay áo tôi thường rt ra thng điên, thm chí đôi lúc rt ra hai thng! Say quá, có khi rt ti ba thng!
Ôi chao! Riêng v phn danh ngôn, t lch vy mà hay! Mt ln na xin cơn, cơn t lch g mi ngày! Vic gì phđi thư viđc sách hao thi gian, c lch đy mà hc mãđi không hết!
Trn Gian Mt Khúc “

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

Học Làm Người

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.


Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

1.      Thứ nhất , “học nhận lỗi”.

Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

2.      Thứ hai, “học nhu hòa”.

Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

3.      Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.

Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4.      Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

5.      Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

6.      Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

7.      Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

TRIẾT HỌC THẬT ĐƠN GIẢN!

Cuộc sống muôn màu luôn làm người ta không nhận ra đâu thật, đâu giả? Từ đó không nhận ra được ai say, ai tỉnh. Đó là vấn đề mà triết học sẽ giúp cho con người luôn bình tỉnh, tự tin để sống bình thản trong mọi tình huống. Nhưng không phải ai cũng có thể tiêu hóa được triết học một cách nhẹ nhàng. Vì các thuật ngữ triết học bị các nhà tư tưởng làm điên con chữ và mù nghĩa cho đại chúng. Nên bài viết này cố gắng làm bình dân hóa ngôn ngữ "hàn lâm" của triết.

Cái gì cũng vậy, khi muốn hiểu nó, việc đầu tiên và duy nhất là phải hiểu khái niệm, định nghĩa của nó một cách tường tận. Việc này sẽ giúp ta được nhiều việc có ích không ngờ mà ta không thể tưởng tượng ra. Ví dụ, để biết cái bất thường, tìm ra cái phát minh mới thì phải hiểu cái bình thường, cái định nghĩa cơ bản của một sự vật hiện tượng, thì mới thấy được cái ý tưởng mới để mà nghiên cứu, tìm tòi.

Như vậy để hiểu triết học là gì ta phải hiểu định nghĩa của triết học nó ra sao? Trước hết chúng ta phải có định nghĩa của nó. Cho đến bây giờ mọi sách vở đều đồng ý với định nghĩa đầy đủ và xúc tích nhất như sau:

Triết học là một bộ môn chung nhất. Nó nghiên cứu về sự vật và hiện tượng của khoa học tự nhiên và xã hội, để tìm ra các quy luật của đối tượng nghiên cứu.

Khi đã nói đến nghiên cứu thì, phải nói đến mục đích của nghiên cứu. Và mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận của sự vật và hiện tượng mà chúng ta đang muốn tìm tòi nghiên cứu.

Như định nghĩa trên, nó có thể chia làm 2 phần: thứ nhất là nó là bộ môn chung nhất. Nhưng mà chung nhất cái gì? Theo hiểu biết của tôi, nó cho ta sự chung nhất trong phương pháp luận để nghiên cứu. Và phương pháp luận đó là: từ ghi nhận các sự vật hiện tượng một cách trung thực, khách quan để đưa vào nghiên cứu bằng trí não gọi là tư duy trừu tượng để đúc kết thành qui luật của sự vật hiện tượng. Sau khi có quy luật rồi đem ra chứng nghiệm lại thực tế cuộc sống để đi đến kết luận khách quan. Đó là con đường đi đến một kết quả khoa học khách quan về sự vật hiện tượng mà ta muốn nghiên cứu.

Thứ hai của định nghĩa là, nó nghiên cứu về cả khoa học tự nhiên (toán, lý, hóa, sinh, sinh lý, sinh hóa, v.v...) và khoa học xã hội (giáo dục, tâm lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, quản trị kinh doanh, etc...) để tìm ra các quy luật của các khoa học này.

Ta lại tìm hiểu thêm mục đích của triết học lại có 2 khái niệm rất mù mờ. Thứ nhất là, bản thể luận của sự vật hiện tượng. Theo hiểu biết của tôi thì, bản thể luận của sự vật hiện tượng là cái mà còn chưa biết mà ta muốn nghiên cứu nó như thế nào về mặt bản chất. Ví dụ, hiện tượng xã hội gần đây bùng lên chuyện tin vào tâm linh, bói toán thì bản chất của nó là gì?

Vấn đề thứ hai của mục đích triết học là nhận thức luận của sự vật hiện tượng. Theo hiểu biết của tôi thì, nhận thức luận của sự vật hiện tượng là phương án giải quyết cho bản thể luận của sự vật hiện tượng. Tức là phương án giải quyết cho bản chất của vấn đề mà ta còn đang chưa hiểu mà ta phải nghiên cứu nó để hiểu. Sau khi nghiên cứu và hiểu bản chất của nó rồi, thì ta đưa ra phương án để giải quyết nó phù hợp nhất. Đó là nhận thức luận của sự vật hiện tượng.

Ví dụ như, hiện tượng xã hội gần đây bùng phát chuyện dân chúng tin vào tâm linh, cầu hồn, cầu siêu có bản chất là người dân mất lòng tin vào cuộc sống. Thế thì nhận thức luận của việc này là phải làm sao đưa ra phương án để cho người dân có lại lòng tin vào cuộc sống.

Tất cả mọi việc của triết học chỉ có vậy. Và thông qua đó, các nhà tư tưởng đã đưa ra những trường phái triết học khác nhau. Mỗi trường phái có những khái niệm cơ bản khác nhau và những lĩnh vực cơ bản khác nhau để làm nền tảng cho kiến thức để giúp cho chúng ta sử dụng trong cuộc sống, học tập, nghiên cứu khoa học. Nhưng không có trường phái triết học nào là toàn bích, toàn mỹ hay hoàn hảo. Mà mỗi trường phái có ưu điểm và khuyết điểm khác nhau.

Ví dụ, trường phái duy vật luận thuần duy lý và chính xác nên nếu áp dụng vào khoa học tự nhiên sẽ rất tốt, nhưng khi áp dụng vào xã hội học sẽ thiếu tính nhân bản. Còn trường phái duy tâm siêu hình thì sẽ bổ sung cho duy vật về tính nhân bản. Nếu hiểu được như thế một cách đầy đủ, ta sẽ thấy có những hình thái chính trị đơn nguyên tả khuynh cực đoan là tại sao? Và tại sao có những hình thái chính trị đa nguyên hữu khuynh ôn hòa và cực đoan.

Triết học chỉ có vậy. Nó thật đơn giản phải không? Hãy hiểu nó thật bình dân như ta thấy sự việc xảy ra, ta suy nghĩ tại sao nó có, và nó có để làm gì? Ai hay cái gì làm cho nó có? Bản chất của nó là gì? Rồi ta đi tìm tính qui luật của nó. Sau đó ta trả lời câu hỏi để giải quyết nó ta phải làm sao? Đó là triết học đấy các bạn.

Cô gái thất tình và nhà hiền triết trẻ

Có một ngày, cô gái vừa chia tay người yêu ngồi tại công viên khóc lóc, lúc này một nhà hiền triết trẻ xuất hiện, nhỏ nhẹ hỏi cô ấy:
“Cô sao thế? tại sao lại khóc một cách đau khổ thế này?
Người thất tình trả lời:
“Uhmm… Tôi không hiểu vì sao anh ta rời xa tôi, tôi cảm thấy rất đau khổ.”
Không ngờ, nhà hiền triết trẻ lại cười giòn tan, và nói:
“Cô thật ngốc”.
Cô giận đỏ cả mặt:
“Anh sao thế? tôi vừa bị ruồng bỏ đã rất đau khổ, anh không an ủi, khuyên can tôi thì thôi, anh còn lại quở mắng tôi thế àh".
Nhà hiền triết quay lại trả lời:
“Cô bé thật ngốc, chuyện này chẳng lý do gì phải đau khổ cả. Người đáng phải đau khổ chính là anh ta. Vì…
Cô chỉ mất đi một người không yêu cô.
Còn anh ta lại mất đi một người yêu anh ta.
Hiểu rồi chứ?"
Cô gái im lặng không nói gì và trở về nhà. Thời gian trôi dần những nỗi buồn trong cô cũng nhẹ vơi đi. Còn chàng trai kia lại ngày càng sống trong đau khổ và tiếc nuối vì đã đánh mất tình yêu của cô gái, một tình yêu mà trước đây anh chưa từng có và sau này cũng chẳng thể nào tìm kiếm được.
Điều sau cùng mà chàng trai hiểu ra đó là: "Cái quý nhất trên thế gian không phải là thứ “không đạt được” và “đã mất đi”, mà là “biết nắm bắt lấy hạnh phúc hiện tại". 

Vì thế bạn hãy nâng niu cuộc sống, nâng niu tình yêu của bạn!
 

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

TÌNH HUYNH ĐỆ KI-TÔ GIÁO

Một trong những khía cạnh của đời sống con người trong mối tương quan với người khác là tình huynh đệ. Chúng ta không ngừng nói về tình huynh đệ và nó cũng được định nghĩa theo những nhãn quan riêng của từng người hay từng nhóm người. Tình huynh đệ có thể được xem là đời sống tình cảm trong lòng của một gia đình, một họ tộc ; tình huynh đệ cũng có thể được xem như một mối quan hệ con người vượt qua ranh giới của quan hệ ruột thịt. Nền tảng của tình huynh đệ, tức là những yếu tố làm nên đời sống huynh đệ cũng đa dạng.


Quả vậy, đời sống huynh đệ là những gì thiết yếu mà các cộng đoàn nhân loại tìm kiếm. Tôi sẽ giới thiệu những trình bày của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI trong cuốn sách “Đời sống huynh đệ Ki-tô giáo”.

Ý tưởng về tình huynh đệ trước và ngoài Ki-tô giáo

“Anh em” trong văn hóa Hy-lạp cổ

Theo truyền thống triết học Hy-lạp cổ, tình huynh đệ trước tiên là mối quan hệ máu mủ theo logíc tự nhiên. Tuy nhiên, tình huynh đệ cũng được tìm thấy trong những mối tương quan xã hội khác.

Trong các tác phẩm của Platon chúng ta tìm thấy việc mô tả về một đồng bạn công dân là người anh em, hay gọi một người bạn là anh em. Điều này cho chúng ta hiểu ít nhất hai vấn đề của tình huynh đệ. Thứ nhất, tình huynh đệ không còn được đặt nền tảng trên mối quan hệ máu mủ, nhưng được mở rộng tới mọi người của một quốc gia. Thứ hai, đồng thời nó cũng khằng định cho chúng ta là những người ngoại lai không được xem là anh em.

Tình huynh đệ trong truyền thống Do-thái giáo

Trong Cựu ước, đối với dân Ít-ra-en, “anh em” được hiểu trong những người cùng chung tôn giáo. Có hai cụm từ thường được sử dụng để chỉ về điều này: “đồng hương” (những anh em) và “láng giềng” (những người ngoại lai).

Chúng ta thấy có một điểm tương đồng giữa quan điểm Hy-lạp và Do-thái. Đối với văn hóa Hy-lạp, cộng đồng chính trị trở thành cộng đồng tôn giáo trong mối dây tình huynh đệ; đối với người người Do-thái, cộng đồng tôn giáo trở thành cộng đồng chính trị. Từ đây chúng ta bắt gặp hai lãnh vực luân lý thuộc hai nhóm: “Dân Thiên Chúa” và “Dân ngoại”. Câu hỏi được đặt ra trong câu chuyện người Sa-ma-ri-a tốt lành: “Ai là người thân cận tôi” liên quan đến vấn đề này.

Chúng ta cũng nhận thấy một phẩm chất đặc biệt khác của Cựu ước. Một người anh em là người thuộc về dân tộc được tuyển chọn của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là tình huynh đệ không phụ thuộc một cách đơn thuần dựa theo dòng tộc, nhưng theo việc tuyển chọn bởi Thiên Chúa. Tình huynh đệ không đến từ một cộng đồng chính trị (theo văn hóa Hy-lạp) mà đến từ Thiên Chúa là Cha, Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa của tất cả mọi người.

Thiên Chúa không chỉ được dành riêng cho dân tộc Ít-ra-en, mà Thiên Chúa của tất cả. Như vậy, “dân tộc được tuyển chọn” cũng được hiểu theo nghĩa rộng, không được giới hạn nơi dân Ít-ra-en. Lịch sử Kinh Thánh, lịch sử Ít-ra-en được hiểu trong lịch sử phổ quát của một nhân loại. Tất cả mọi con người, Ít-ra-en và Dân ngoại thiết lập một nhân loại duy nhất từ việc tạo dựng của Thiên Chúa. A-dam tượng trưng cho một nhân loại đầu tiên và Nô-ê là một nhân loại mới thứ hai được sinh ra. Bảng gia phả của sách Sáng Thế ở chương 10 (một sự tập hợp chung mọi nguồn gốc) nổ lực chứng minh rằng toàn bộ lịch sử nhân loại hiện hữu qua sự cứu độ của Thiên Chúa bằng giao ước với Nô-ê. Trong ý nghĩa này tình huynh đệ được hiểu theo tính đại đồng.

Tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mác-xít

Trước khi đề cập tới ý tưởng về tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mác, chúng ta cần nhắc tới phong trào Ánh Sáng, được đánh dấu bởi cách mạng Pháp, là tiền đề cho phong trào cộng sản. Cách mạng Pháp đã khai sinh cho nước Pháp câu tuyên ngôn chung: tự do, bình đẳng, huynh đệ. Tuyên ngôn ngày xác định tình huynh đệ đồng quyền chính trị. Thật vậy, thiết lập lại quyền bình đẳng tự nhiên giữa tất cả mọi người là nguồn gốc của tình huynh đệ mà Cách mạng pháp nhắm tới.

Tư tưởng này làm tiền đề cho ý tưởng Mác-xít về tình huynh đệ mà từ “đồng chí” là biểu tượng. Tuy nhiên, chúng ta biết, trong tư tưởng Mác-xít, ý tưởng về Thiên Chúa như người Cha chung bị biến mất; đồng thời ý tưởng về một nhân loại chung cũng mất tầm quan trọng. Tại sao vậy?

Chúng ta thường lầm tưởng chủ nghĩa cộng sản đem lại một thế giới đại đồng. Ý thức hệ cộng sản thực sự lại không phải như vậy. Nếu như phong trào Ánh Sáng muốn xóa bỏ ranh giới của sự khác biệt, trong tư tưởng Mác-xít nhân loại lại được chia ra thành hai nhóm hoàn toàn đối chọi nhau: giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Điều này đặt thế giới vào hai thái cực khác nhau và chống lại nhau : một sự phân rẽ trong cùng nhân loại, một cuộc đấu tranh sinh tồn. Hệ quả là nó không thể đối xử với tất cả mọi người như anh em, nhưng chỉ với một số. Những người khác là địch !

Ý tưởng về tình huynh đệ trong Ki-tô giáo

Qua các Tin Mừng

Các nhà chú giải Kinh Thánh tìm thấy những nhóm bản văn khác nhau nói về “anh em” trong các Tin Mừng.

Nhóm đầu tiên (những bản văn) tiếp quản việc sử dụng từ “anh em” của Cựu ước. “Anh em” có nghĩa là những người cùng cộng đoàn tôn giáo (cộng đoàn Do-thái giáo). Tất cả những bản văn này được tìm thấy trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (x. Mt 5,21-24; 18,15-17).

Nhóm văn bản thứ hai đề cập đến “anh em” không được sự dụng một cách thông thường bởi những người Do-thái, nhưng được sử dụng một cách đặc biệt bởi cách kinh sư. Họ sử dụng từ “anh em” để nói về các môn sinh của mình. Chính Chúa Giêsu cũng đã áp dụng nó cho nhóm mười hai. Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa các kinh sư và Chúa Giê-su trong việc sử dụng từ “anh em”.

Trước hết, tình huynh đệ của những môn đệ giữa họ và với Đức Giê-su được nối kết một cách chặt chẽ với tình phụ tử của Thiên Chúa, khác với mức độ quan hệ thầy-trò của các kinh sư. Bằng chứng trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Chúa Giê-su yêu cầu các môn đệ : “Các con không được gọi ai là thầy, bởi vì các con chỉ có một thầy và tất cả các con là anh em với nhau” (Mt 23,8). Từ đây chúng ta nhận thấy “anh em” mang chiều kích Ki-tô giáo : Thiên Chúa là nền tảng của tình huynh đệ.

Tiếp đến, khi Chúa Giê-su gọi các môn đệ của mình là “anh em”, đó là điều hoàn toàn khác với các kinh sư gọi các môn sinh. Nhóm mười hai là biểu tượng của Dân Thiên Chúa mới, một dân của những người là anh em với nhau.

Nhóm văn bản thứ ba hoàn toàn thuần túy Ki-tô giáo. Đoạn Tin Mừng theo thánh Mác-cô là một ví dụ điển hình (Mc 3, 31-35: ai mới thật là thân nhân của Đức Giêsu?)

Trong đoạn Tin Mừng này, mối quan hệ thiêng liêng vượt lên trên mối quan hệ máu mủ. Đối với Đức Giê-su, những người anh em là những người kết hợp với Người và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Tình huynh đệ không được xem là trật tự tự nhiên, nhưng phụ thuộc vào quyết định của tinh thần, nói vâng với ý muốn của Thiên Chúa. Khi Chúa Giê-su nói: “Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10, 29-30), Người muốn ám chỉ một gia đình mới, lớn lao hơn được cấu thành từ những thành viên của những cộng đoàn Ki-tô hữu.

Trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 25, chúng ta cũng nhận thấy quan điểm Ki-tô giáo về tình huynh đệ hoàn toàn riêng biệt so với những quan điểm khác. Chúa Giê-su gọi những người nhỏ bé, vô danh, túng thiếu nhất là anh em. Một điều đặc biệt trong đoạn Tin Mừng này là không có một dấu hiệu nào nói lên rằng họ là những tín hữu, những người đã tin vào Tin Mừng, nhưng tất cả mọi con người túng thiếu, bần cùng, nghèo khó, bị bỏ rơi, bị bách hại hay bị tù đày được chúc phúc.

Qua các bản văn của thánh Phao-lô

Thánh Phao-lô đã đánh dấu một bước ngoặt thật sự cho sự phát triển Ki-tô giáo tách khỏi Do-thái giáo. Việc sự dụng cụm từ “anh em” trong văn bản của thánh Phao-lô là một bằng chứng cho sự tách biệt này. Đối với thánh Phao-lô, “anh em” là những Ki-tô hữu, cùng chia sẽ niềm tin vào Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô (x. Rm 8,14-17).

Nếu như tình huynh đệ của Ít-ra-en dựa trên tình phụ tử đặc biệt của Thiên Chúa được trao ban trong việc tuyển chọn, trong Ki-tô giáo ý tưởng của tình phụ tử được thiết lập một cách sâu sắc qua Ba ngôi Thiên Chúa. Tình phụ tử của Thiên Chúa được biểu lộ đầu tiên trong Con Thiên Chúa, Đức Giê-su Ki-tô, và qua Người tới chúng ta. Cũng vậy, Thánh Thần của Người ở trong chúng ta làm cho chúng ta kêu lên Thiên Chúa là “Cha”.  Nói cách khác, tình phụ tử của Thiên Chúa được bộc lộ cho chúng ta qua trung gian của Đức Giê-su Ki-tô trong Chúa Thánh Thần.

Khi nói Chúa Thánh thần, chúng ta nói tới sự cởi mở của Thiên Chúa cho mọi người. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhấn mạnh : tất cả mọi người được mời gọi trở thành Ki-tô hữu, nhưng chỉ ai làm điều đó trở thành anh em. Tình yêu agape có thể tồn tại nơi mọi người, nhưng tình yêu huynh đệ (philadelphia) thuộc về người môn đệ của Đức Ki-tô (cùng một tình thần, tâm hồn hướng về Thiên Chúa).

Qua giáo huấn của các Giáo phụ

Thời kỳ của các Giáo phụ là thời kỳ của Ki-tô giáo tiến sâu vào trong thế giới của người ngoại. Như vậy, phép rửa được xem là hành vi cụ thể mà một người trở thành “anh em”. Phép rửa đồng nghĩa với việc sinh lại và người lãnh nhận chấp nhận đi vào trong “tình huynh đệ” Ki-tô giáo như chính tên của cộng đoàn (cộng đoàn tình yêu). Trong việc sinh lại này Giáo hội là mẹ và Thiên Chúa là Cha. Cũng vậy, việc cử hành bí tích thánh thể là trung tâm của tình huynh đệ.

Tuy nhiên, dần về sau với sự phát triển của Ki-tô giáo, từ “huynh đệ” hay “anh em” dần ít được sử dụng một cách chung, nghĩa là cho tất cả mọi Ki-tô hữu. Nó trở thành một từ riêng được sử dụng trong hàng giáo sĩ, và phát triển trong các tu viện, cộng đoàn tu. Điều này nói lên ý nghĩa đích thực của đời sống của một cộng đoàn tu : sống tình huynh đệ. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cũng đã đánh mất một ý nghĩa nền tảng ban đầu của những cộng đoàn Ki-tô tiên khởi mà chắc hẳn chúng ta cần phải đào sâu lại ngày nay.

Trần Văn Khuê, aa

Cuộc sống và những va đập

Có một lần, lâu lắm rồi, tôi đọc được một câu chuyện đơn giản mà giàu triết lý sống, đó là câu chuyện về hòn sỏi. Tôi xin kể lại đây lời tự thuật của hòn sỏi với các chi tiết tôi còn nhớ được. Hòn sỏi kể về chuyến đi đầy cam go của mình như sau:

“Tôi vốn xuất thân từ một tảng đá khổng lồ trên núi cao. Tôi nằm đó, trải qua sương gió, nắng mưa trong bao năm tháng dài đăng đẳng. Sau một thời gian, nắng, nóng, mưa và lạnh làm cho người tôi đầy vết nứt. Tôi vỡ ra thành từng mảnh nhỏ, góc cạnh lởm chởm và lăn xuống núi, mưa bão và nước lũ cuốn tôi qua các dòng sông suối rồi xuôi về biển. Do liên tục bị va đập, lăn lộn trên đường ra biển, tôi bị thương tích đầy mình. Mỗi lần bị va đập, những góc cạnh của tôi đau đớn vô cùng nhưng rồi chúng cũng bớt xù xì lởm chởm mà tròn dần trên chặng đường tôi đi. Và chính những dòng nước cuốn tôi đã xoa dịu và làm lành những vết thương của tôi. Cùng với đớn đau, tôi học được nhiều bài học quý báu và cuối cùng, tôi trở thành một hòn sỏi láng mịn như bây giờ.”
Lời trần thuật của người nào đó gán cho hòn sỏi làm tôi liên tưởng đến quá trình hình thành ngọc trai tự nhiên. Thành phần ngọc trai tự nhiên chủ yếu là xà cừ. Người ta cho rằng ngọc trai được tạo ra khi có một vật lạ nhỏ hoặc hạt cát chui vào bên trong con trai biển và nằm luôn trong đó. Bị kích thích bởi vật lạ này, con trai tiết ra một chất dịch bao bọc dị vật. Đây là cách phản ứng để tự chữa lành các vết thương của loài nhuyễn thể này. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều năm và chất tiết ra đó tạo nên một lớp xà cừ bao bọc lấy hạt cát hay dị vật xâm nhập mà tạo thành viên ngọc đẹp, quý và có giá trị.
Bạn nghĩ gì về những chi tiết trong câu chuyện hòn sỏi và ngọc trai? Trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những những va đập đầy biến động. Liệu chúng ta có sẵn lòng ôm ấp những đớn đau và học cách vươn lên trên nỗi đau, để rồi một ngày nào đó chúng ta cũng có thể tạo ra những “hòn sỏi mịn màng hay “viên ngọc trai lấp lánh”? Là con người, không ai được ban tặng một cuộc đời như ý với mọi thứ đều hoàn hảo. Cuộc sống là một quá trình tự mình làm nên với nhiều thử thách cam go. Chúng ta có đủ can đảm để trải qua cuộc hành trình gian khó như hòn sỏi đã trải qua? Liệu chúng ta có đủ bản lĩnh như con trai biển, trong dòng lệ đớn đau với dị vật xâm nhập, tạo nên được những viên ngọc trai lung linh màu sắc?
Đau đấy các bạn ạ, nhưng đủ sức chịu đựng và biết cách chuyển hóa nỗi khổ niềm đau là một nghệ thuật. Nếu như tảng đá vỡ không kiên trì chịu đựng đau thương để lăn tròn góc cạnh, sẽ không có những hòn sỏi tròn láng. Nếu những con trai không chịu đựng nổi sự đớn đau của hạt cát hay dị vật nào đó chui vào bên trong vỏ của mình và có cách phản ứng tự vệ, loài nhuyễn thể có tên gọi là ‘trai’ ấy sẽ không tạo được những viên ngọc lung linh sắc màu. Đã bao giờ bạn thấy được rằng chính những chông gai mới mang lại những bài học quý và để lại những ấn tượng đẹp, dù rằng trong quá trình này, cần nhiều nỗ lực để ôm ấp và chuyển hóa? Đã bao giờ bạn sử dụng chất liệu đau thương để tạo cho mình những hạt ngọc trai kỳ diệu chưa?
Cuộc sống vốn có chu kỳ vận hành riêng mà chúng ta quen ví như là quy luật hình ‘sin’, hết thăng đến trầm, hết trầm lại thăng như sóng biển nhấp nhô. Ta không thể nào thay đổi cuộc sống; việc chúng ta có thể và nên làm là thay đổi thái độ về cuộc sống. Có thể là bạn, có thể là tôi, cuộc sống chẳng bao giờ chỉ mang đến toàn là hạnh phúc. Cuộc sống cũng không bất công đến nỗi chỉ đem đến cho ai toàn niềm đau. Đừng bao giờ nghĩ rằng con đường ta đi chỉ có cỏ gai rác rưởi hay đầy hoa thơm trái ngọt. Nhìn bầu trời, bạn sẽ thấy, trời lúc nào cũng có mây. Áng mây bay qua, cứ để nó bay qua, trời xanh vẫn cứ trong sáng đó thôi. Cuộc đời không quá giản đơn là một mặt phẳng hoặc trắng hoặc đen. Điều quan trọng là biết cách phát huy nội lực mình có được để tự nâng mình vượt lên những nỗi đau, những va đập của cuộc sống để tự hoàn thiện bản thân. Đây là một kỹ năng sống. Trong mọi hoàn cảnh, sống hết mình trong hiện tại với niềm tin trọn vẹn vào chính bản thân mình, hướng về tương lai, tin vào ngày mai tươi đẹp, chúng ta sẽ có một cuộc sống ý nghĩa.
Cuộc sống là tập hợp của vô vàn những điều biến động. Vì vậy, trong mọi cảnh ngộ, chúng ta cần nhớ cuộc hành trình của hòn sỏi và sự hình thành hạt ngọc trai để sống tự tin hơn, để học cách xoa dịu và làm lành những vết thương, thăng hoa trong cuộc sống. Sự va đập của cuộc sống chẳng có gì đáng sợ đâu bạn ạ. Đừng bao giờ nghĩ mình quỵ ngã. Dù có lúc tưởng chừng mất tất cả, ta vẫn còn có niềm tin, nghị lực và cả bài học quý giá từ cái ‘mất tất cả’ đó mà. Nếu biết cách, chính những lúc chưa thành công hay thiếu may mắn ấy là những ‘thành phần’ của liều thuốc chủng ngừa cho cuộc sống mỗi người. Sự trải nghiệm bản thân là bài học sinh động nhất. Một khi chúng ta học được cách chấp nhận đớn đau trong quá trình chuyển hóa những góc cạnh xù xì, chúng ta sẽ trở thành những hòn sỏi láng mịn. Khi nào chúng ta có đủ sức ôm ấp và chuyển hóa những đau thương trong nước mắt, chúng ta có thể tạo nên những hạt ngọc trai quý giá cho đời.

Hằng Như