Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Có một lớp tiếng Anh độc đáo ở Sapa


Hai căn phòng nhỏ ở góc phố Sapa và bản làng Tả Van (Sapa, Lào Cai) là nơi học chữ “đặc biệt” của hơn 70 em học sinh nghèo nơi đây.

Nằm im ắng trong góc nhỏ ở chân núi Hàm Rồng và bản Tả Van (Sapa, Lào Cai), lớp học tiếng Anh mang tên Peter là nơi những em học sinh miền núi Sapa học chữ miễn phí hơn một năm nay.
Ngoài sức tưởng tượng, lớp học hàng ngày có khoảng trên dưới 20 em, (buổi sáng) và khoảng 45 em (học buổi chiều và tối) đến học. Với “giáo viên” là những tình nguyện viên nước ngoài và toàn bộ kinh phí mở lớp, các dụng cụ học tập đều do chàng trai Tràng An, Tạ Văn Thướng (tên thường gọi là Peter) hỗ trợ.

Trăn trở “con đường” học chữ

Đặt chân đến miền sơn cước Sapa hơn một năm nay, chàng trai trẻ du học Singapore bị cảnh đẹp mê hồn của núi rừng Sapa, bị mê hoặc quyến rũ bởi tiết trời se lạnh, phủ đầy sương mù.

Hàng ngày, anh chứng kiến cảnh rất nhiều trẻ em dân tộc H'mong lang thang hàng rong quanh thị trấn mà không đi học, buổi tối lại chứng kiến các trẻ ngủ tạm bợ ở khu chợ ẩm thực Sapa với giá 5.000 đồng/tối… những hình ảnh đó lởn vởn trong đầu khiến anh trăn trở và muốn ở lại Sapa mở lớp tiếng Anh miễn phí cho trẻ em nghèo nơi đây.


Peter nhớ lại như in hình ảnh một cậu bé nhem nhuốc khi được hỏi "tại sao tụi con không đi học?" Các em trả lời "vì gia đình nghèo, không có gạo ăn để đi học….".

- Peter: Tụi con có thích đi học tiếng Anh không?
- RẤT THÍCH học tiếng Anh thầy ạ!
- Các em gãi đầu gãi tai trả lời bằng tiếng H'mong là “chi pow” (nghĩa là “không biết” – PV).

Nói đến đây, Peter lặng đi. “Mình thầm nghĩ nếu trẻ em không đi học, không có giáo dục, không đến trường thì đồng nghĩa là KHÔNG có TƯƠNG LAI. Nên mình nẩy ra ý tưởng làm cách nào để giúp các em đến trường, có chút ít vốn liếng Anh ngữ, có lẽ là phải mở ra một lớp tiếng Anh từ thiện cho các trẻ em ở Sapa chăng?”, Peter bộc bạch.

Bởi lẽ nếu các em nói được tiếng Anh, viết được tiếng Anh, đọc được tiếng Anh thì có rất nhiều cơ hội cho các em xin việc làm ở khách sạn, nhà hàng hoặc ở các văn phòng Tour Du Lịch ở quanh Sapa. Các em sẽ không phải đi bán hàng rong nữa, không phải ngủ trọ ở khu chợ ổ chuột nữa… “Từ những lớp tiếng Anh miễn phí này sẽ giúp các em có thêm nụ cười, sẽ dần dần từng bước gây ý thức cho các trẻ em yêu mến cái chữ nhiều hơn, yêu mến lớp học hơn, yêu mến đến trường học hơn…”, Peter trải lòng.

Từ nỗi trăn trở đó, Peter đã quyết định bỏ tiền ra thuê mở một quán Café góc phố (Café Peter Sapa) và mở lớp tiếng Anh miễn phí cho các trẻ em miền núi ở Sapa, sau thành công bước đầu, giờ đây anh tiếp tục mở thêm một lớp tại làng Tả Van, SaPa.

Lớp học “có một không hai”

Lớp học Anh ngữ được bố trí ở trong nhà, bên ngoài được giành để bán Café vỉa hè… Để duy trì lớp học, Peter trích lợi nhuận để chi tiêu thức ăn, đồ dùng và quần áo cho các em học tại lớp học. Lớp học và quán của Peter như một gia đình nhỏ ấm cúng và tràn ngập tiếng cười, niềm vui.
Theo “thầy giáo” Peter thì lớp học Anh ngữ ở Sapa được gần một năm hoạt động, lớp ở bản Tả Van cũng đã được 2 tháng. Các em được chia ra học theo các level: level A đã được khoảng trên dưới 20 em, (buổi sáng), lớp Tiếng Anh level B gom tụ được 45 em (học buổi chiều và tối).
Các em được học tiếng Anh theo 4 kỹ năng, Nghe,- Nói- Đọc - Viết. Ngoài ra còn được học môn Tiếng Việt, học môn vẽ, học thêu và làm nghề thổ cẩm…
Vàng Thị Dủ (lớp 5A), người dân tộc Mông. Dủ nói rằng nhà em ở Lao Chải, buổi sáng đi học tiếng Việt, chiều xuống bản Tả Van học tiếng Anh của thầy Peter. Còn thứ 7 và chủ nhật ở lại luôn lớp học cùng các bạn.

Tôi  hỏi:

- Dủ học ở đây lâu chưa?
- Em học một tháng rồi.
- Em học tiếng Anh lớp thầy Peter vui không?
- Học thầy Peter vui lắm, đông lắm!


Một điểm đặc biệt nữa ở lớp học đó là những giáo viên hàng ngày đứng lớp. Họ là những tình nguyện viên sang Việt Nam du lịch và đến Sapa dạy chữ các em. Hiện tại, lớp học có 3 thiện nguyện viên người Canada đó là cô Elandri, anh Matt và cô Taylor đến dạy học Anh ngữ một tháng.

“Nụ cười của các em rất hồn nhiên và trong sáng như thiên thần. Mình rất thích nụ cười đó bởi điều đó làm mình thấy ấm lòng. Các em thường kể về những ước mơ của mình một cách hồn nhiên rằng lớn lên được làm cô giáo, bác sỹ, hướng dẫn viên du lịch, được về thăm thủ đô Hà Nội…”, Peter chia sẻ.

Khó khăn còn nhiều….

Tự mình lập ra hai lớp học, kiếm tìm những tình nguyện viên nước ngoài để làm “thầy giáo”, chàng trai Hà Nội gặp vô vàn khó khăn trong việc đem chữ và ước mơ cho các em nghèo vùng cao. Lớp học vẫn còn thiếu sách vở, giáo trình Anh ngữ, đồ dùng học tập và đặc biệt là thức ăn cho các em sáng - trưa -chiều -tối, thuốc chữa bệnh, quần áo…

Những ngày đầu thành lập, Peter kêu gọi bạn bè góp sách vở, đồ dùng học tập để làm tủ sách cho các em. Tự trang trí lớp học bằng chính những “sản phẩm” do những người bạn nước ngoài và các em làm ra, lớp học của Peter sinh động và hết sức thú vị. “Tuy nhiên cơ sở lớp học quá chật hẹp, thiếu thốn trang thiết bị, đồ dùng…và vẫn rất cần những tình nguyện viên giảng dạy các em”, Peter cho biết.

Cơ sở vật chất thiếu  thốn đủ bề là thế, các "thầy cô" và học trò phải tận dụng nhiều thứ làm đồ dùng học tập, nhưng vượt lên khó khăn, với mong ước từng bước  giúp trẻ em nghèo miền núi có con chữ, có kiến thức, có động lực để tiếp tục chinh phục ước mơ của mình, những chàng trai, cô gái Hà Thành vẫn hằng đêm, hàng ngày kêu gọi, quy tụ những trái tim nhiệt  huyết của tuổi trẻ để làm đẹp cho quê hương, làm đẹp kiến thức cho con người Việt Nam.

Nguôn: giaoduc.net.vn




Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

Định nghĩa yêu thương


Tình thương chân thật là một tình thương luôn luôn có sự cảm thông và sự hiểu biết. Chất liệu hiểu biết sẽ đem lại cho chúng ta một nguồn an lạc. Không có hiểu hẳn nhiên sẽ không có thương, vì hiểu biết và thương yêu thường luôn song hành vào nhau. Giống như cái ly và nước uống, không thể thiếu một trong hai thứ đó.

Tình thương đích thực chính là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn. Cuộc sống vốn dĩ bần hàn quạnh quẽ, nhưng khi chúng ta biết cách chọn lựa và tiếp nhận thì tự thân sẽ tạo ra một không gian ngay chính giữa nội tâm của mình. Trên con đường thực nghiệm tâm linh, ta dừng chân lại để thấy được tất cả trời xanh, mây trắng. Đó là những giây phút xảy ra trong đời dù chỉ thoáng qua một lần.
Chim hót thông reo hoa nở
Trời xanh mây trắng là đây
Ánh mắt thương yêu sáng tỏ
Nụ cười ý thức đong đầy
Chúng ta có may mắn lớn được học hỏi, lắng nghe pháp mầu đó là một nhân duyên để ngày càng thăng hoa trên mỗi sự sống con người và thiên nhiên.
Chỉ mỗi thoáng tâm này
Sao chim hót đến hay
Sao cỏ xanh đến mượt
Hạt sương mướt như vầy
Bình minh lên hé sáng trên vách núi, từng áng mây trôi thong dong. Đây là giây phút ta có thể mỉm cười để cảm nhận sự sống bắt đầu vào ngày mới. Từng con đường sờ sờ trước mắt, biết bao giọt nắng miên viễn đều khiến tôi thu mình nơi chốn vắng. Nắng vàng cũng là khoảnh khắc đẹp nhất. Hoa lá cỏ cây hay viên sỏi đều chứa đựng sự mầu nhiệm tuyệt vời trong ấy.
Với tôi mọi thứ không thể thiếu đi những người bạn tâm giao chí cốt chân tình. Bạn có thể ngồi xuống trong giây lát để nhìn mây bay, sương buông hay nắng sớm về trong chén trà. Mỗi khi mệt nhoài, chúng ta tập ngồi cho thật bình yên rồi trở về hơi thở ý thức. Khổ đau và Hạnh phúc luôn hiện hữu ở nơi mỗi người, chỉ cần ta nhận diện khổ đau và biết chuyển hóa nỗi buồn phiền thành nguồn an lạc có ích vì đau khổ vốn là chất liệu của hạnh phúc, của thương yêu.
Nói về mẹ là cả tiếng nói thiêng liêng, là nguồn sống trải dài trên mỗi bước chân. Tình yêu của mẹ là cả bầu trời đầy ánh sao. Nếu ai vẫn còn bên mẹ là một may mắn lớn trong đời, cả cuộc đời mẹ luôn lặn lội hao mòn để tìm ra ánh nắng mùa xuân và hãy nhìn lại mẹ thật kỹ để biết rằng mình đang diễm phúc trên vòng tay che chở ấy. Có lần tôi đã nhắc thầm, giây phút đẹp nhất là mẹ vẫn đang hiện hữu như cánh sen thơm giữa đồng nội quê nhà.
Yêu thương là một nghệ thuật sống đầy đủ của một con người. Nếu ta chú tâm vào lớp vỏ ngoài của thân cây, thì ta dễ nhận ra một điều là cái vỏ đó đang nhiệm vụ bảo vệ cho toàn thân cây không bị ký sinh trùng gây hại. Cũng như khi ai đó đã làm chúng ta tức giận buồn phiền thì ta hãy nhìn đối tượng ấy như một cơ hội thực tập soi sáng nội tâm mình.
Trở về với hơi thở nhiệm mầu để chăm sóc cơn giận là lúc ta có mặt đầu tiên của giây phút hiện tại, biểu hiện ra sự tươi mát bình thản và im lặng, từ đó cánh cửa bình an sẽ mở dần, niềm vui mà ta từng mơ ước sẽ bắt đầu một cuộc sống hiền hòa.
Hằng ngày chúng ta nên trân trọng thời gian cho nhau. Và ta cần phải nuôi dưỡng chiều sâu tâm hồn cho tình thương luôn có mặt. Thức dậy ta nên làm mới thân tâm, chế tác hạnh phúc để con đường thương yêu thêm rộng lớn. “Lắng lòng nghe lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”. Nghe chuông trong ý thức đó bạn sẽ cảm thấy cuộc sống bao la như mây trời thảnh thơi, không một chút buộc ràng. Đó cũng là một cách để thương, thương mình và người!

Kinh Tâm Thích Pháp Bảo

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Chiến thắng căng thẳng tâm lý: Bí quyết về đích trong mùa thi đại học

Đối với hầu hết thí sinh đang chuẩn bị bước vào kỳ thi tốt nghiệp và mùa thi ĐH, các em đều chuẩn bị cho mình một tâm thế “chạy nước rút” cho chặng đua về đích, vì thế các em luôn trong tâm trạng căng thẳng, với một áp lực đậu – rớt cao  đối với cả học sinh và phụ huynh …  từ đây nhiều vấn đề tâm lý nảy sinh.

Những vấn đề tâm lý trong khi học bài thi

Trong khi học thi các em nên hiểu:
Việc học bài trong luyện thi ĐH là một cuộc đua maratông, đích đến cuối cùng là kết quả đậu vào một trường ĐH  mà các em mơ uớc, chính vì vậy việc học ôn, làm bài tâp là chuyện được sắp xếp trong suốt quá trình học dài hơi nhiều ngày tháng; để bền sức và giữ cho đến phút về đích cuối cùng, chúng ta không học dồn dập trong thời điểm gần thi, cách học mà đa số thí sinh đã làm là “nhồi nhét” kiến thức, và không ít bạn đã chọn lựa cách “học tủ” để ăn may, vấn đề này đã phần nào được hóa giải bằng kiểu thi trắc nghiệm.

Nhắc lại chuyện học tủ trong thi cử là đề cập đến một vấn đề quá cũ của một chuyện không mới, tôi chỉ  muốn đề cập đến khía cạnh tâm lý trong việc học thi:
Theo quy luật của chú ý và trí nhớ thì khả năng tập trung chú ý và tiếp nhận kiến thức của người trưởng thành là 45 phút. (Mới có quy định tiết học 45 phút) Chúng ta cần nên tôn trọng quy luật tâm lý đó trong học tập, để tránh sa đà vào  việc học mà quên mất việc phải cho tâm trí nghỉ ngơi.Vì vậy trong mùa thi, khi thấy buồn ngủ cứ đi ngủ, việc buồn ngủ là đòi hỏi hay là phản ứng báo động của cơ thể.
Một điều cần lưu ý trong việc phân bổ thời gian cho học tập và vui chơi giải trí, đừng quan niệm tới mùa thi là phải “cắm cổ” học, không được vui chơi phút nào, việc vui chơi hợp lý giúp tái tạo năng lượng sống, sức sáng tạo, sự thư giãn tâm trí, sẽ làm não bộ  tiếp thu kiến thức tốt hơn.

Với cơ chế trí nhớ, nếu chúng ta vừa tiếp nhận một kiến thức mới chúng ta sẽ  nhớ nhanh, trí nhớ tạm thời, nhưng sẽ chóng quên, sau khi học, về nhà ta nên coi bài lại ngay, ta sẽ nhớ bài lâu và tốt hơn là để một thời gian sau mới học lại. Muốn lưu lại kiến thức đó bền lâu trong trí nhớ ta phải dùng cách học, hồi tưởng trí nhớ, liên tưởng các vấn đề, khái niệm bằng hình ảnh, ngày nay các nhà sinh lý thần kinh phát hiện rằng; não phải có chức năng lưu giữ trí nhớ bằng hình ảnh, khi học chúng ta liên tưởng qua hình ảnh giúp nhớ lâu và tốt hơn cách ghi nhớ bình thường.

Ví dụ cho 100 danh từ hiện lên trong 3 phút, cho chúng ta lặp lại, chúng ta không thể nào nhớ hết, nhưng liên tưởng các danh từ ấy bằng hình ảnh, rồi sắp xếp hình ảnh thành một câu chuyện có nghĩa, chúng ta sẽ nhớ dễ dàng trong 3 phút.

Tạo cho mình một tâm thế thật thoải mái:
Khi các bạn đi thi với một tâm thế sẳn sàng, tự tin vào chính mình, vào kiến thức, sự chọn lựa và quyết định của mình, các em không lo sợ rớt, sẽ thoải mái trong suy nghĩ, trong cảm xúc và tâm trạng lúc làm bài. Các bạn hay lo âu, sợ thi rớt sẽ nghĩ nhiều đến điều đó, sợ hãi làm ta bị loạn tâm trí, gây mất bình tĩnh, đừng quá áp lực việc đậu rớt, mà hãy tập trung học và làm bài hết khả năng mình, hãy học bài học thành công và thất bại qua kết quả thi. Khi đi thi không nên mang theo tài liệu, coi cho tới lúc vào phòng thi, (phần lớn thí sinh đã làm như vậy) chỉ làm các em thêm rối, trong giờ phút đó các em nên thật thư giản, thả lỏng tất cả cơ bắp, kể cả cơ mặt, hít thở thật sâu, nhẹ nhàng và đều đặn để giữ cảm xúc quân bình, tránh quá hồi hộp, toát mồ hôi, mất kiểm soát suy nghĩ , trong cuộc đua ngang sức ngang tài, ai giữ được bình tĩnh nhiều chừng nào phần thắng sẽ thuộc về người đó.

Và tâm thế trong khi làm bài thi
Trong Phòng thi  khi làm bài:
Tâm lý trong phòng thi là vấn đề hết sức quan trọng, nếu trong giờ phút đó các em quá lo sợ, sẽ tự tạo cho tâm trí mình một áp lực rất lớn, ảnh hưởng lên cơ chế sinh lý cơ thể và hệ thần kinh, gây ức chế.
Quá trình nhận thức là quá trình làm việc cật lực của tư duy, ở đó các quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán, suy lý diễn ra theo một qui trình liên hoàn, muốn có được chất lượng tư duy tốt, thí sinh nên tập trung cao độ vào việc giải quyết đề bài một cách độc lập, không nên phân tâm bởi ngoại cảnh (giám thị gác thi, bạn bè xung quanh…) hay cố nhớ, loay hoay một vấn đề đã quên,
Cần đọc thật kỹ đề bài trước khi đặt bút vào làm, vì khi đó cảm xúc hồi hộp lấn át tâm trí rất nhiều, ta dễ bị nhầm lẫn, ngộ nhận yêu cầu của đề bài, rất nhiều thí sinh học rất tốt, nhưng do không giữ được bình tĩnh khi đọc đề, hiểu sai đề mà thi hỏng.
Trong quá trình làm bài cần tập trung nhưng không nên quá say sưa, sa đà vào giải quyết đề bài mà không kiểm tra lại những gì mình đã làm, sau một thời gian tập trung suy nghĩ để làm bài, thí sinh cần thư giản, vài phút ngồi quan sát xung quanh, để đưa tâm trí mình trở lại bình thường, lúc đó nên coi lại những gì đã làm, để kiểm tra một cách khách quan hơn, phát hiện sai lầm kịp thời, và để tiếp tục nạp thêm ý tưởng mới cho việc giải quyết những câu kế tiếp.

Ứng xử trong phòng thi:
Một vấn đề tế nhị mà các em cần nhớ là mối quan hệ với bạn bè cùng phòng thi, sẽ có người rất lôi thôi, họ cứ làm phiền chúng ta, vì cứ theo hỏi bài hoài, nếu gặp phải người bạn làm chúng ta mất quá nhiều thời gian bởi những câu hỏi, gây mất tập trung, làm phiền (vì bị giám thị nhắc nhở) chúng ta nên im lặng không trả lời các câu hỏi của bạn, để giữ được sự tập trung cao độ khi làm bài, không để họ có cơ hội gây phiền toái.
Các em nên nhớ một phút trong phòng thi có giá trị bằng cả một tương lai, kết quả đậu hay rớt sẽ quyết định ngã rẽ số phận, cuộc đời. Chính vì thế, không bao giờ rời phòng thi khi hãy còn thời gian làm bài , người ra đề đã tính toán thời gian làm trong bao lâu mới hoàn thành bài thi, chúng ta nếu có làm xong dành thời khắc đó xem kỹ lại bài làm, bổ sung, chỉnh sửa kịp thời những sai sót không đáng có. Rất nhiều em do tâm lý phải ra sớm hơn giờ thi, chứng tỏ mình làm bài hay, tốt hơn người khác đã phải ngậm ngùi nuốt trái đắng thi rớt.
Thi cử cũng như  mọi vấn đề khác, sẽ có chuyện may rủi xảy ra, nhưng sẽ không ảnh hưởng lớn đến ta, nếu chúng ta chuẩn bị cho mình một hành trình ôn thi thật khoa học, một tâm lý thật cân bằng khi bước vào mùa thi, và trong lúc làm bài thi.
Vinh quang chỉ đến với ai giữ được cho mình sự bền bỉ của ý chí, sự bình tĩnh và tự tin ở việc mình làm. Tất cả những điều này là do yếu tố tâm lý chi phối và quyết định…

Thac sĩ. Tâm lý Nguyễn Thị Tâm

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Truyền thuyết ánh bình minh

Trở về thời cổ tích
Truyền thuyết ánh bình minh
Nghe cụ già kể lại
Cổ tích của chính mình…


Ngày xưa trời và đất
Một màu đen bịt bùng
Cỏ cây và thú vật?
Tất cả con số không

Thế rồi… một vị thần
Xuất hiện từ đâu đó
Vá trời, đầu đội đá
Và mưa… to… thiệt to

Biển bắt đầu sinh ra
Trời cao xanh… mây trắng
Chim chuyền cành ríu rít
Đêm về có ánh trăng

Nhưng còn chút băn khoăn
Sao vẫn hoài tăm tối?
Ánh sáng nhỏ nhoi quá
Không đủ để rong chơi…

Thần Mặt Trời xinh tưoi
Từ chân trời bay đến
Chói lòa màu óng ánh
Xua bóng tối ngủ quên

Tia nắng vàng đầu tiên
Nhỏ nhoi và nghịch ngợm
Đậu trên từng cọng cỏ
Ươm chút tình thảo thơm

Bình minh thích giận hờn
Rong chơi đi muôn nẻo
Đôi khi quên ló dạng
Người với người... trông theo...

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Ý Nghĩa Của Sự Phục Sinh Trong Tân Ước: Cội Nguồn Do Thái Giáo

William L. Burton, OFM
The Bible Today,
Vol. 49, số 45, September/October 2011, tr. 285-290

Để hiểu Tân Ước nói gì về sự phục sinh, chúng ta cần phải am tường bối cảnh tôn giáo của các bản văn Tân Ước cũng như bối cảnh của những người đọc các bản văn này. Chúng ta phải xét đến ngữ cảnh của người viết lẫn độc giả, nghĩa là thế giới ý nghĩa của người Do Thái.


SỰ PHỤC SINH TRONG TƯ TƯỞNG DO THÁI

Quan niệm tôn giáo về sự phục sinh của người chết hầu như không được người Do Thái cổ xưa biết đến. Mãi cho đến thế kỷ thứ I và II trước Công nguyên cũng không. Chính xác đây chỉ là hình thức muộn thời của niềm tin Do Thái giáo, được Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài chia sẻ. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy nhắc đến sự phục sinh trong sách Maccabê 1 và 2, sách Daniel. Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng trong Do Thái giáo thời ấy, niềm tin vào sự phục sinh của người chết không được mọi người Do Thái đồng tình. Những người Samaritanô rõ ràng không tin điều ấy, người Sađucêô cũng không. Bởi thế cho nên không mấy ngạc nhiên khi người Sađucêô không tin vào các thực tại thiêng liêng nói chung như linh hồn, thần khí, ma quỷ, vv…, không tin vào sự phục sinh. Trong khi vấn đề này đặt ra nhiều điểm quan trọng, cần phải nói rằng người Do Thái Giêsu và các môn đệ người Do Thái của Ngài, gồm cả các tác giả Tân Ước, hầu như tin chắc vào sự phục sinh của người chết.

Những người Do Thái vào thời Đức Giêsu thật sự đã hiểu gì về sự phục sinh của người chết? Họ quan niệm thế nào? Đây thật cũng là mớ bòng bong. Như đã nói, người Sađucêô và Samaritanô phủ nhận bất kỳ ý niệm nào về sự phục sinh của người chết. Cũng chẳng biết người Essênêô, một nhánh Do Thái giáo thời ấy, quan niệm thế nào. Họ có nghĩ rằng phục sinh người chết là thân xác sống lại, hay chỉ đó là sự hiện hữu thiêng liêng kéo dài của linh hồn như một bản thảo trong Bản Cuộn Biển Chết (1QS 4:7-8) đã nói: “Niềm vui vĩnh cửu trong cuộc sống, triều thiên vinh quang và vẻ ngoài đường bệ trong ánh sáng khôn cùng”? Thật khó mà nói được. Ngay cả người Pharisiêu cũng có vài vấn đề. Họ tin rằng người công chính sẽ chỗi dậy từ cõi chết và sau đó nhập vào thân xác, nhưng sử gia Josephus cho rằng họ chỉ tin điều này về linh hồn và thân xác của người công chính, còn linh hồn của kẻ tội lỗi vẫn tách biệt khỏi thân xác và chịu hình phạt đời đời (Josephus, Cuộc chiến tranh Do Thái, 2:163). Tuy nhiên, các nguồn sách vở kinh sư sau này cho thấy rằng chỉ một thời gian ngắn sau thời Chúa Giêsu – có lẽ chỉ sau khi Đền Thờ Giêrusalem bị người Roma phá hủy vào năm 70 công nguyên – thì sự phân biệt giữa số phận người công chính và người tội lỗi đã biến mất, và niềm tin rằng mọi người sẽ sống lại, hợp nhất cả hồn và xác, có người hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, có người phải chịu hình phạt đời đời, dường như đã trở thành quan điểm chung.

Sự phục sinh trong Tân Ước cũng được hiểu và phát triển trong cách hiểu của người Do Thái. Trong toàn bộ các sách Tân Ước, chúng ta thấy rõ sự phát triển này trong bộ hai tác phẩm của Luca: Tin Mừng Luca và Tông Đồ Công Vụ.

SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊSU

Hẳn nhiên, trong Tân Ước, biến cố định hình và trở thành chuẩn mực cho niềm tin Kitô giáo vào số phận của người chết là sự phục sinh của Chúa Giêsu. Các tác giả Tin Mừng chia sẻ vài đồng thuận nào đó về vấn đề này. Sự phục sinh của Đức Giêsu là biến cố có thực, một biến cố lịch sử không tranh cãi, nhưng chính ý nghĩa của biến cố này mới là điều quan trọng đối với các tác giả Tân Ước. Sự phục sinh của Đức Giêsu khai mạc tiến trình cánh chung, chương cuối cùng trong lịch sử nhân loại, và nhờ đó mà vận mệnh cánh chung của các tín hữu được bảo đảm. “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6, 8). Hơn nữa, phục sinh của Đức Giêsu là sự xác minh cho căn tính cứu thế của Ngài và cho thấy sự tưởng thưởng của Thiên Chúa cho sự đau khổ và cái chết nhục nhã của Ngài. Cái nhìn này về sự phục sinh của Đức Giêsu được tìm thấy trong khắp cuốn Tân Ước.

Trong số những đề cập đến sự phục sinh và ý nghĩa của nó trong Tân Ước thì các nguồn quan trọng nhất là các thư của Thánh Phaolô, các sách Tin Mừng, và cuốn Tông Đồ Công Vụ. Ở đây chúng ta sẽ bàn đến những nguồn này theo trật tự: trước hết là Thánh Phaolô, rồi đến các Tin Mừng – đặc biệt là Tin Mừng Luca – và cuối cùng là sách Tông Đồ Công Vụ.

PHỤC SINH THEO THÁNH PHAOLÔ

Thánh Phaolô không quan tâm đến trình thuật về sự phục sinh của Đức Giêsu cho bằng ý nghĩa của biến cố này đối với các Kitô hữu. Đối với Thánh Phaolô, biến cố lịch sử mà Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết chỉ là một sự kiện. Giống như những tác giả Tân Ước khác, Thánh Phaolô tin rằng thực tại thể lý và lịch sử của biến cố Đức Giêsu phục sinh là điều không thể chối cãi:

Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. (Rm 15, 3-8)

Là người sáng lập và phát triển các cộng đoàn Kitô giáo, Thánh Phaolô đã có hướng nhìn của một nhà giảng thuyết và là chủ chăn, phải cố gắng làm sao để mở bật ra ý nghĩa của biến cố này cho các Kitô hữu. Khi rao giảng, Thánh Phaolô đã phải khó khăn nối kết biến cố lịch sử của sự phục sinh thân xác nơi Chúa Giêsu với sự phục sinh của mọi người đã chết khi Đức Kitô trở lại. Vì thế, trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Thessalônica, Thánh Phaolô dùng sự phục sinh của Chúa như là một bảo đảm rằng số phận của Chúa Giêsu cũng được chia sẻ với những ai tin vào Ngài: “Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4, 14). Thánh Phaolô là tác giả đầu tiên trong Tân Ước đã nối kết niềm hy vọng cánh chung đã được bảo đảm của sự phục sinh nơi Chúa Giêsu và nơi các tín hữu với nghi thức rửa tội.

Trong thư gởi các tín hữu Roma, Thánh Phaolô đã chứng minh nhờ bí tích rửa tội mà các Kitô hữu được chia sẻ số phận này của Chúa Phục Sinh: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4). Sau này, Thánh Basiliô, một trong những giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội, đẫ nối kết cách sinh động hơn nữa: “Qua bí tích rửa tội, chúng ta bắt chước cuộc mai táng của Đức Kitô. Thân xác của người chịu phép rửa tội được chôn vùi trong nước …” (Basil, Về Chúa Thánh Thần).

Như vậy, Thánh Phaolô đã dùng sự kết hiệp với Đức Kitô trong bí tích rửa tội như một nền tảng cơ bản cho nhiều giáo huấn phát sinh của ngài. Chẳng hạn, trong 1 Côrintô, Thánh Phaolô đã rút ra một vài tiêu chuẩn luân lý cho đời sống người Kitô hữu như là hệ quả của sự thâm nhập vào Đức Kitô nhờ bí tích rửa tội, Vì đã được tháp nhập vào thân thể Đức Kitô (en Christo trong tiếng Hy Lạp) qua bí tích rửa tội nên người đã được rửa tội không thể kết hợp thân xác này với gái điếm cũng như không thể mang thân xác này vào các đền đài thờ cúng ngẫu tượng ngoại giáo. Trong 1 Thessalônica, Thánh Phaolô dạy rằng người Kitô hữu được kết hiệp với Đức Kitô qua bí tích rửa tội, khi qua đời thì họ cũng không chia lìa với mọi người khác, ngay cả chính sự chết. Sự chia lìa với những Kitô hữu thân yêu đã qua đời của chúng ta chỉ là vẻ bề ngoài, không phải là thực sự, cho nên chúng ta không cần phải buồn sầu thái quá. Như vậy, Thánh Phaolô đã gởi sứ điệp an ủi đến những người Thessalônica, dựa vào phép rửa của họ với Đức Kitô Phục Sinh: “Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1 Tx 4, 13). Do đó, đối với Thánh Phaolô, chính cái ý nghĩa của sự phục sinh nơi Đức Kitô mới là điều quan trọng đối với Kitô hữu chứ không phải trình thuật về biến cố phục sinh hay ngôi mộ trống. Chính thần học về bí tích rửa tội của Thánh Phaolô, dựa trên niềm tin chắc chắn của ngài về sự phục sinh, mà Giáo Hội đã đặt nền tảng cho những giáo huấn quan trọng về sự sống đời sau, về Giáo Hội học, hành vi luân lý của người Kitô hữu cũng như niềm tin các thánh thông công.

PHỤC SINH THEO CÁC TIN MỪNG

Các trình thuật Tin Mừng về biến cố phục sinh của Chúa Giêsu phản ánh quá trình phát triển về ý nghĩa của sự phục sinh trong Giáo Hội sơ thời, một sự phát triển chịu ảnh hưởng đặc biệt của Thánh Phaolô hoặc qua đó nói lên rằng Thánh Phaolô và các tin mừng cùng chia sẻ chung với nhau các truyền thống sơ thời về sự phục sinh. Từ Tin Mừng đầu tiên của Thánh Marcô cho đến Tin Mừng cuối cùng của Thánh Gioan, chúng ta thấy rằng những trình thuật chi tiết về việc khám phá ngôi mộ trống đã có sự khác biệt – không có những chứng nhân trực tiếp về sự phục sinh của Chúa Giêsu, chỉ là những gì xảy ra sau này. Có một số chi tiết khác nhau: khác nhau về căn tính của chứng nhân, cả con người lẫn thiên thần; lời chứng cũng khác nhau và sự gặp gỡ của các nhân chứng với Chúa Giêsu phục sinh cũng khác nhau. Nó thay đổi từ Tin Mừng này đến Tin Mừng khác. Dù rằng xét tổng thể thì trình thuật về sự phục sinh của mỗi Tin Mừng xem ra giống nhau, nhưng ý nghĩa được gán cho sự phục sinh trong Tin Mừng Luca và Tông Đồ Công Vụ đáng chúng ta để ý vì nó đặt nền trên Sách Thánh của Do Thái giáo.

Ý NGHĨA CỦA SỰ PHỤC SINH TRONG LUCA VÀ TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ

Mặc dù các trình thuật Nhất Lãm giống nhau, nhưng nhãn quan của Luca khác biệt đáng kể. Trong Tin Mừng của mình, Thánh Luca nhấn mạnh rằng cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là cần thiết (dei trong tiếng Hy Lạp). Nó cần thiết để Sách Thánh được “ứng nghiệm” (Lc 4, 21; 9, 51; 18, 31; 21, 22; 23, 37; 24, 44). Đối với Thánh Luca, cả trong Tin Mừng lẫn Tông Đồ Công Vụ, phục sinh được hiểu như là sự ứng nghiệm cần thiết của niềm hy vọng và lời tiên tri trong Do Thái giáo thưở xưa. Điều này thật rõ ràng trong câu chuyện làng Emmau, khi Chúa Giêsu phục sinh hỏi: “Chẳng phải là điều cần thiết khi Đấng Cứu Thế phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” và rồi “bắt đầu từ ông Môisê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24, 26-27). Như Luke Timothy Johnson đã viết trong chú giải Tin Mừng Thánh Luca (Sacra Pagina 3, 405), Thánh Luca gắng sức chứng minh rằng cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu đã được Sách Thánh tiên báo: sách Torah, sách Các Tiên Tri và những bản văn khác. Về sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thánh Luca luôn nhất quán trong Tin Mừng của mình cũng như khi viết về lịch sử Giáo Hội sơ thời trong Tông Đồ Công Vụ. Trong cả hai cuốn sách, “Thánh Luca sử dụng “lời tiên tri và sự ứng nghiệm” nhiều hơn hết trong tất cả các bản văn khác của Tân Ước” (Luke Timothy Johnson, Tông Đồ Công Vụ, Sacra Pagina, 5, 12).

Không giống như các Tin Mừng, Tông Đồ Công Vụ không có trình thuật ngay sau khi Chúa Giêsu phục sinh. Nhưng như trong Thánh Phaolô, nhờ Tông Đồ Công Vụ mà chúng ta biết được ý nghĩa của sự phục sinh trong Giáo Hội sơ thời cũng như nó được rao giảng như thế nào. Như đã nói trên, một phát triển quan trọng trong Tông Đồ Công Vụ là trình bày cách hiểu của Giáo Hội sơ thời về sự phục sinh của Chúa Giêsu như là một phần ứng nghiệm các lời tiên báo của Cựu Ước được hoàn tất trong Chúa Giêsu (Cv 1, 16; 13, 27). Trong bài đại diễn từ đầu tiên của Tông Đồ Công Vụ (Cv 2, 14-36), Thánh Phêrô trình bày cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu như là “áp dụng chú giải midrash các bản văn về Đấng cứu thế trong sách Torah” (Johnson, Tông Đồ Công Vụ, 54). Trong diễn từ này, Thánh Phêrô trích dẫn ngôn sứ Gioel và Thánh Vịnh 15, chủ đề này cũng được tiếp nối trong các diễn từ khác của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô trong Tông Đồ Công Vụ. Như vậy, Thánh Luca “thành công cách thuyết phục trong việc làm cho câu chuyện về Đức Giêsu của mình và bước khởi đầu của người Kitô hữu như là sự nối dài của lịch sử Thánh Kinh” (Ibid., 12). Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một phần của kế hoạch lớn lao hơn của Thiên Chúa, được khai mạc trước hết nơi dân Do Thái, được Sách Thánh của họ tiên báo, và cuối cùng ứng nghiệm và có hiệu lực trong sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Chuyển ngữ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Khái Quát Về Dòng Đức Mẹ Lên Trời

«Con người của niềm tin và con người của thời đại» (TL1,2). Đó là tinh thần và phương hướng đào tạo các tu sĩ dòng thánh Augustinô-Mẹ Về Trời vì mục đích “làm cho nước Chúa trị đến” (TL1,4). Tinh thần này được đấng sáng lập - cha Emmanuel d’Azon và các anh em đồng sáng lập ra sức thực hiện và được tiếp nối qua các thế hệ tu sĩ dòng Mẹ Về Trời “những người thợ hăng say cho nước Chúa” (LT).


Một số nét khái quát về Dòng và linh đạo.

Sáng lập và đấng sáng lập

Sau cuộc cách mạng năm 1789, xã hội Pháp rơi vào tình trạng rối loạn và chao đảo. Nhiều ý thức hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ra đời và phát triển, đặc biệt là ý thức hệ về nền cộng hòa và về quyền con người. Những ý thức hệ này ra đời nhằm xây dựng một xã hội chỉ dựa trên những quyền lợi thuần túy của con người mà loại bỏ các giá trị đạo đức Kitô giáo. Hình ảnh về Thiên Chúa có nguy cơ bị xóa bỏ khỏi đời sống con người và xã hội. Đối với những người theo “chủ nghĩa tự do” này, Giáo Hội là biểu tượng của một khối óc tín điều và bảo thủ. Những chỉ trích về Giáo hội-giáo quyền cũng như tín điều- cũng vì thế không ngừng gia tăng. Người Pháp, đa số là công giáo, dần mất đi những điểm tựa trong niềm tin và trong nếp sống. Cũng trong bối cảnh rối khó khăn này của Giáo Hội, Noel 1845 dòng Mẹ Về Trời được thành lập bởi cha Emmanuel d’Alzon và cùng với năm anh em khác.
Cha E.d’Alzon ra sức để bảo vệ quyền lợi Thiên Chúa và chống lại chủ nghĩa tự do thế tục hóa. «Con người từ chối Thiên Chúa bởi vì Ngài đã « làm phiền » con người khi đặt trong họ lương tâm, ý thức trách nhiệm và những giá trị đạo đức » (LT). Đối với cha, quyền lợi Thiên Chúa và quyền lợi con người không thể tách rời nhau, cũng như không thể tách rời Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội. Đó cũng là lý do cha đấu tranh chống lại “chủ nghĩa xa lìa và độc lập” với giáo quyền Rôma (gallicanisme).
Cha lấy tư tưởng và luật dòng thánh Augustinô làm cơ sở cho sự thành lập dòng. Tư tưởng của Thánh Augustinô đặc biệt nhấn mạnh về sự thật, sự thiện, sự hiệp nhất, sự khiêm nhường, tình huynh đệ, tình yêu Thiên Chúa và Giáo Hội, hoạt động tông đồ… Điều này cho phép các tu sĩ vừa có thể sống mối thân tình với Đức Kitô vừa có thể minh chứng tình yêu của Ngài bằng đời sống và các hoạt động tông đồ.
Cha E. d’Alzon xuất thân từ một gia đình quí tộc ở Nîmes, một thành phố nhỏ miềm nam nước Pháp. Vì thế, cha được hưởng một nền giáo dục rất chu đáo ngay từ thời thơ ấu. Sớm có ý thức phục vụ và bảo vệ Giáo hội Công Giáo, cha theo học nghành luật sư, học thần học và được thụ phong linh mục ở Rôma năm 1834. Cha nhanh chóng trở thành tổng đại diện giáo phận Nîmes và đảm trách vai trò này trong 40 năm. Với sự nhiệt thành, rộng lượng, vô vị lợi; một niềm tin mãnh liệt và một tình yêu nồng cháy dành cho Đức Kitô, cha đem hết tâm sức của mình phục vụ Chúa, Giáo hội và phục vụ anh em.

Khẩu hiệu

« Nguyện nước Cha trị đến » (TL 1,13)
« Hãy mặc lấy tình yêu của Đức Giêsu Kitô » (LT) hay nói theo ngôn ngữ thánh Augustinô « thước đo của tình yêu là yêu không giới hạn ».
Ba chiều kích của tình yêu : Đức Kitô, Đức Trinh nữ và Giáo hội
Linh đạo của dòng Mẹ Về Trời có thể được tóm lược như sau : “Tình yêu cho Chúa chúng ta, cho Đức Trinh nữ, mẹ Ngài và cho Giáo hội, hiền thê của Ngài » (LT). Thực ra đó là một tình yêu duy nhất bắt nguồn từ Đức Kitô và được chia sẻ tới những người mà Ngài yêu mến.

Đời sống cộng đoàn

Anh em dòng thánh Augustinô-Mẹ Về Trời là những tu sĩ sống thành cộng đoàn và nhấn mạnh ba chiều hướng : sống thân tình với Đức Kitô, đời sống cộng đoàn và hoạt động tông đồ.
Đức Kitô là trung tâm điểm của đời sống các tu sĩ Dòng Mẹ Về Trời.
Tình huynh đệ được đặc biệt nhấn mạnh trong đời sống cộng đoàn và được xây dựng trên sự khác nhau của mỗi thành viên; trên sự thẳng thắn, cởi mở, chia sẽ và ý thức trách nhiệm; trên sự tôn trọng, chấp nhận và tha thứ lẫn nhau.
Ba phẩm chất quan trọng : thẳng thắn, can đảm và vô vị lợi.
Sự thẳng thắn bao gồm sự thành thực, sự tự do, sự cởi mở con tim, thẳng thắn trong lời nói và việc làm.
Sự can đảm, dũng cảm hay táo bạo . Đó là phẩm chất cần thiết để giữ vững đức tin, để minh chứng và loan báo triều đại của Thiên Chúa. « Cần có một một tình yêu và niềm tin dũng cảm, nếu không anh em sẽ đánh mất tinh thần của Dòng Mẹ Về Trời ».
Vô vị lợi là dấu chỉ của một tình yêu chân thành mà nó được thể hiện rõ nét trong sự rộng lượng. « Đó là sự vô vị lợi trong tình yêu ».

Hoạt động : Giáo huấn, xã hội và đại kết

Anh em Dòng Mẹ Về Trời hoạt động tông đồ trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tất cả được qui tụ dưới ba hình thức : giáo huấn, xã hội và đại kết. Theo cách nói của thánh Augustinô, có nghĩa là : sự thực, sự thiện và sự hiệp nhất. Ba hình thức hoạt động này không tồn riêng lẽ nhưng quyện chặt vào nhau trong các hoạt động của Dòng.
Giáo huấn : Dòng Mẹ Về Trời quan tâm tới sự giáo dục, đặc biệt về đức tin, trên « tất cả các phương diện » (LT) : trường học, truyền thông, báo chí, hành hương, đào tạo giáo dân… Dòng còn quan tâm tới việc khuyến khích và nâng đỡ ơn gọi giới trẻ, mục vụ giáo xứ…Với ý thức rằng « thế giới, ngay cả những lúc suy thoái, được dẫn lối bởi những ý tưởng », « các tu sĩ dòng Mẹ Về Trời sẽ phải là những người gieo ý tưởng, nhưng là những ý tưởng đúng đắn, có ích cho Giáo hội và xã hội»(LT).
Xã hội : trong ý tưởng « xây dựng một xã hội công bình và bác ái hơn », các tu sĩ dòng Mẹ Về Trời dấn thân trong các hoạt động quần chúng nhân dân và đặc biệt cho những người nghèo. Sự dấn thân này được thể hiện dưới ba hình thức : hiện diện với họ, cộng tác với họ và làm việc cho họ. Sự dấn thân của các tu sĩ dòng Mẹ Về Trời nhằm mục đích thăng tiến đời sống con người về vật chất cũng như tinh thần, về ý thức xă hội cũng như nếp sống văn minh dưới ánh sáng của Tin Mừng.
Đại kết : kế thừa tư tưởng của đấng sáng lập, dòng Mẹ Về Trời, ngay từ những ngày thành lập, luôn thao thức động cho sự hiệp nhất Giáo Hội. Dẫu rằng phương pháp hoạt động có khác nhau tùy theo thời gian và bối cảnh lịch sử, nhưng mục đích luôn luôn là « đại kết ».Tức là hoạt động nối kết các tôn giáo có cùng một niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Dòng còn quan tâm tới « sự đối thoại liên tôn » với xác tín rằng: Thiên Chúa cũng mạc khải chân lý của Ngài trong các tôn giáo khác (CV2)
Trong tính kế thừa và sáng tạo, anh em dòng Mẹ Về Trời cố gắng hoạch định ra những chương trình hành động đáp ứng những nhu cầu thiết thực của Giáo Hội và xã hội trong mỗi thời đại khác nhau. Hai trong các hoạt động điển hình là truyền thông báo chí và hành hương.
Ngay từ thời gian đầu, các đấng sáng lập đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của một tờ báo dành cho người tín hữu. Tờ báo sẽ là nhịp cầu nối kết những người có niềm tin với nhau và với Giáo Hội ; là phương tiện hữu hiệu và quần chúng để trao đổi thông tin và học hỏi lẫn nhau. Các đấng sáng lập cũng nhận thấy vai trò quan trọng của báo chí về mặt chính trị, xã hội và niềm tin Tôn giáo thời bấy giờ « đấu tranh bằng ngòi bút » (LT). Đó cũng là ý tưởng cho sự ra đời nhà xuất bản lớn Bayard, và tờ nhật báo « la croix » ngày nay tại Pháp.
Cùng với báo chí, Dòng đã sớm tổ chức những cuộc hành hương lớn cho những người Công Giáo Pháp ngay từ những năm đầu thành lập : Salette, Rôma, Lộ Đức, đất Thánh,…Ngày nay, chương trình hành hương của Dòng luôn được duy trì, đổi mới và phát triển, nổi bật nhất là cuộc hành hương quốc tế hằng năm tại Lộ Đức vào dịp lễ Mẹ Về Trời.

Cộng tác với giáo dân

Không chỉ về đời sống thiêng liêng, những người giáo dân muốn sống tinh thần của Dòng còn có thể dấn thân vào các hoạt động, tổ chức và tu nghị của Dòng như một “thành viên” thông qua chương trình “giao kết”. Đó cũng là một trong những đặc tính của Dòng Mẹ Về Trời. Điều này cũng thể hiện thiện chí của Dòng muốn « cùng nhau làm cho nước Chúa trị đến ».

Đại gia đình dòng Mẹ Về Trời

Giống như những dòng sông được tạo thành và tuôn ra từ một nguồn mạch duy nhất-tình yêu Thiên Chúa. Đó là hình ảnh đại gia đình dòng Mẹ Về Trời theo cách nói của cha E. d’Alzon. Trong số 12 nhánh dòng, ngoài Augustinô-Mẹ Về Trời, bốn nhánh khác cần được nhắc tới:
-          Nữ Tu Mẹ Về Trời (R.A) “thờ phượng Thiên Chúa và giáo dục”
-          Nữ tu Tận Hiến - Mẹ Về Trời (O.A): truyền giáo, đại kết, phục vụ người nghèo.
-          Nữ Tu Hèn Mọn - Mẹ Về Trời (PSA): “làm vinh danh Thiên Chúa nơi những người nghèo và bé mọn”.
-          Orantes - Mẹ Về Trời (Or.A): chiêm niệm trong hoạt động và truyền giáo.
-          Cùng với Augustinô- Mẹ Về Trời, bốn nhánh dòng trên tạo thành một “bàn tay năm ngón” hoạt động cho “nước Chúa hiện trị trong chúng ta và xung quanh chúng ta”(TL).

Trong sự khiêm nhường và bác ái, nhiệt thành và quảng đại, trong sự dũng cảm và cố gắng nhạy bén với những nhu cầu của Giáo Hội và xã hội, anh em Dòng Mẹ Về Trời dấn thân trong xã hội để bảo vệ quyền lợi của Thiên Chúa và bảo vệ quyền lợi của con người theo tinh thần của Phúc Âm. Điều mà luật dòng đã nhấn mạnh « Tinh thần của Vị Sáng Lập thúc đẩy chúng ta mang lấy những trăn trở lớn lao của Thiên Chúa và của con người, thúc đẩy chúng ta hiện diện nơi đâu Thiên Chúa đang bị đe dọa trong (bị xua đuổi khỏi) con người, và nơi đâu con người được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa đang bị đe dọa.» (TL1,4).

Ghi chú :
TL : tu luật dòng
LT : sách linh thao của cha E.d’Alzon
CV : công đồng Vatican II

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Câu Chuyện Về Hòn Sỏi

Có một lần, lâu lắm rồi, tôi đọc được một câu chuyện đơn giản mà giàu triết lý sống, đó là câu chuyện về hòn sỏi. Tôi xin kể lại đây lời tự thuật của hòn sỏi với các chi tiết tôi còn nhớ được. Hòn sỏi kể về chuyến đi đầy cam go của mình như sau:

“Tôi vốn xuất thân từ một tảng đá khổng lồ trên núi cao. Tôi nằm đó, trải qua sương gió, nắng mưa trong bao năm tháng dài đăng đẳng. Sau một thời gian, nắng, nóng, mưa và lạnh làm cho người tôi đầy vết nứt. Tôi vỡ ra thành từng mảnh nhỏ, góc cạnh lởm chởm và lăn xuống núi, mưa bão và nước lũ cuốn tôi qua các dòng sông suối rồi xuôi về biển. Do liên tục bị va đập, lăn lộn trên đường ra biển, tôi bị thương tích đầy mình. Mỗi lần bị va đập, những góc cạnh của tôi đau đớn vô cùng nhưng rồi chúng cũng bớt xù xì lởm chởm mà tròn dần trên chặng đường tôi đi. Và chính những dòng nước cuốn tôi đã xoa dịu và làm lành những vết thương của tôi. Cùng với đớn đau, tôi học được nhiều bài học quý báu và cuối cùng, tôi trở thành một hòn sỏi láng mịn như bây giờ.”
Lời trần thuật của người nào đó gán cho hòn sỏi làm tôi liên tưởng đến quá trình hình thành ngọc trai tự nhiên. Thành phần ngọc trai tự nhiên chủ yếu là xà cừ. Người ta cho rằng ngọc trai được tạo ra khi có một vật lạ nhỏ hoặc hạt cát chui vào bên trong con trai biển và nằm luôn trong đó. Bị kích thích bởi vật lạ này, con trai tiết ra một chất dịch bao bọc dị vật. Đây là cách phản ứng để tự chữa lành các vết thương của loài nhuyễn thể này. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều năm và chất tiết ra đó tạo nên một lớp xà cừ bao bọc lấy hạt cát hay dị vật xâm nhập mà tạo thành viên ngọc đẹp, quý và có giá trị.
Bạn nghĩ gì về những chi tiết trong câu chuyện hòn sỏi và ngọc trai? Trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những những va đập đầy biến động. Liệu chúng ta có sẵn lòng ôm ấp những đớn đau và học cách vươn lên trên nỗi đau, để rồi một ngày nào đó chúng ta cũng có thể tạo ra những “hòn sỏi mịn màng hay “viên ngọc trai lấp lánh”? Là con người, không ai được ban tặng một cuộc đời như ý với mọi thứ đều hoàn hảo. Cuộc sống là một quá trình tự mình làm nên với nhiều thử thách cam go. Chúng ta có đủ can đảm để trải qua cuộc hành trình gian khó như hòn sỏi đã trải qua? Liệu chúng ta có đủ bản lĩnh như con trai biển, trong dòng lệ đớn đau với dị vật xâm nhập, tạo nên được những viên ngọc trai lung linh màu sắc?
Đau đấy các bạn ạ, nhưng đủ sức chịu đựng và biết cách chuyển hóa nỗi khổ niềm đau là một nghệ thuật. Nếu như tảng đá vỡ không kiên trì chịu đựng đau thương để lăn tròn góc cạnh, sẽ không có những hòn sỏi tròn láng. Nếu những con trai không chịu đựng nổi sự đớn đau của hạt cát hay dị vật nào đó chui vào bên trong vỏ của mình và có cách phản ứng tự vệ, loài nhuyễn thể có tên gọi là ‘trai’ ấy sẽ không tạo được những viên ngọc lung linh sắc màu. Đã bao giờ bạn thấy được rằng chính những chông gai mới mang lại những bài học quý và để lại những ấn tượng đẹp, dù rằng trong quá trình này, cần nhiều nỗ lực để ôm ấp và chuyển hóa? Đã bao giờ bạn sử dụng chất liệu đau thương để tạo cho mình những hạt ngọc trai kỳ diệu chưa?
Cuộc sống vốn có chu kỳ vận hành riêng mà chúng ta quen ví như là quy luật hình ‘sin’, hết thăng đến trầm, hết trầm lại thăng như sóng biển nhấp nhô. Ta không thể nào thay đổi cuộc sống; việc chúng ta có thể và nên làm là thay đổi thái độ về cuộc sống. Có thể là bạn, có thể là tôi, cuộc sống chẳng bao giờ chỉ mang đến toàn là hạnh phúc. Cuộc sống cũng không bất công đến nỗi chỉ đem đến cho ai toàn niềm đau. Đừng bao giờ nghĩ rằng con đường ta đi chỉ có cỏ gai rác rưởi hay đầy hoa thơm trái ngọt. Nhìn bầu trời, bạn sẽ thấy, trời lúc nào cũng có mây. Áng mây bay qua, cứ để nó bay qua, trời xanh vẫn cứ trong sáng đó thôi. Cuộc đời không quá giản đơn là một mặt phẳng hoặc trắng hoặc đen. Điều quan trọng là biết cách phát huy nội lực mình có được để tự nâng mình vượt lên những nỗi đau, những va đập của cuộc sống để tự hoàn thiện bản thân. Đây là một kỹ năng sống. Trong mọi hoàn cảnh, sống hết mình trong hiện tại với niềm tin trọn vẹn vào chính bản thân mình, hướng về tương lai, tin vào ngày mai tươi đẹp, chúng ta sẽ có một cuộc sống ý nghĩa.
Cuộc sống là tập hợp của vô vàn những điều biến động. Vì vậy, trong mọi cảnh ngộ, chúng ta cần nhớ cuộc hành trình của hòn sỏi và sự hình thành hạt ngọc trai để sống tự tin hơn, để học cách xoa dịu và làm lành những vết thương, thăng hoa trong cuộc sống. Sự va đập của cuộc sống chẳng có gì đáng sợ đâu bạn ạ. Đừng bao giờ nghĩ mình quỵ ngã. Dù có lúc tưởng chừng mất tất cả, ta vẫn còn có niềm tin, nghị lực và cả bài học quý giá từ cái ‘mất tất cả’ đó mà. Nếu biết cách, chính những lúc chưa thành công hay thiếu may mắn ấy là những ‘thành phần’ của liều thuốc chủng ngừa cho cuộc sống mỗi người. Sự trải nghiệm bản thân là bài học sinh động nhất. Một khi chúng ta học được cách chấp nhận đớn đau trong quá trình chuyển hóa những góc cạnh xù xì, chúng ta sẽ trở thành những hòn sỏi láng mịn. Khi nào chúng ta có đủ sức ôm ấp và chuyển hóa những đau thương trong nước mắt, chúng ta có thể tạo nên những hạt ngọc trai quý giá cho đời.

Hằng Như